Đền ông Hoàng Mười (Nghệ An ) – Wikipedia

 

 

Đền ông Hoàng Mười hay còn gọi là Mỏ Hạc Linh Từ ở huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Đền ông Hoàng Mười là ngôi đền nổi tiếng ở Nghệ An thờ đạo Mẫu Tứ phủ, vị thần được thờ chính là ông Hoàng Mười.[1]

 

Đền được xây dựng năm 1634 từ thời hậu Lê trên diện tích hơn 1 ha ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh huyện Hưng Nguyên, đền còn có tên khác là Mỏ Hạc Linh từ. Trải qua nhiều lần tu bổ, đến nay, đền có 3 toà chính: Thượng điện, Trung điện và Hạ điện.

 

Theo truyền thuyết, ông Hoàng Mười là con thứ mười của Đức Vua cha Bát Hải Động Đình. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh. Vì thế, ông Hoàng Mười còn được nhân dân xứ Nghệ tôn vinh là “Đức thánh minh”, là một vị quan nằm trong hệ thống điện thần thờ mẫu tứ phủ ở Việt Nam. Nơi nào có điện thờ mẫu là nơi đó có tượng hoặc bàn thờ ông Hoàng Mười.

 

Nhưng sự tích được lưu truyền nhiều nhất có lẽ là câu chuyện: Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh (cũng chính là nơi quê nhà).[1] Tại đây ông luôn một lòng chăm lo đến đời sống của nhân dân, truyện kể rằng có một lần xảy ra cơn cuồng phong làm đổ hết nhà cửa, ông liền sai quân lên rừng đốn gỗ về làm nhà cho dân, rồi mở kho lương cứu tế. Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Trong khi mọi người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời. Sau này khi hiển ứng, ông được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong phủ Nghệ An. Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười.

 

Hiện nay, ngôi mộ của ông Hoàng Mười nằm trong quần thể di tích của đền.

 

Cùng với ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Mười là một trong số các ông Hoàng hay về ngự đồng nhất. Theo tín ngưỡng thờ Tứ phủ thì ông Hoàng Mười thuộc địa phủ, là người có tài về văn chương, thơ ca, điều binh khiển tướng… và lúc chấm đồng cũng thường được các thanh đồng hầu theo những đặc điểm trên.

 

Ngoài lễ hội chính diễn ra vào ngày 10 tháng 10 âm lịch hằng năm còn có lễ hội khai điểm vào ngày rằm tháng 3.[1] Lễ hội có các hoạt động hấp dẫn như rước sắc bằng thuyền từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền, hát chầu văn, thi chọi gà, đánh cờ người… Đền Ông Hoàng Mười cũng là một trong những nơi diễn ra Đại lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh trong kháng chiến chống quân xâm lược.

KINH MẪU THƯỢNG THIÊN -Wikipedia

-Chú ý :Đây chỉ là chép từ trên wikipedia xuống nên chưa biết thực hư thế nào nên cứ tin 50% thôi chứ không nên tin rằng đây là kinh Mẫu Thượng Thiên thật .

KINH MẪU THƯỢNG THIÊN
Nay Đức Mẫu truyền kinh cứu khổ
Hỡi chúng sanh bớt chút thời gian
Muốn cho khỏi vận cơ hàn
Muốn cho bớt cả ức oan ở đời
Hỡi chúng sanh nghe lời Mẫu dạy
Hãy sống cho đúng đạo làm người
Đừng tham của cải chơi vơi
Ăn rồi phải trả gấp mười không sai
Tham rồi giàu chỉ nhất thời
Đời này chưa hết trả mười đời sau
Ta khuyên bảo cùng nhau hôm sớm
Sống chính chuyên đạo lý làm người
Đời này tiếng khóc, đời sau tiếng cười
Hay chỉ những kẻ ăn lười
Làm không ăn có để rồi hại dân
Đó là những kẻ bất nhân
Nợ này phải trả nồng lần con ơi
Nay kinh Mẫu dạy truyền đời
Ăn ở đức độ Phật Trời chứng tâm
Thấy người khổ ải trầm luân
Con ơi bớt chút lương tâm cho người
Thấy người điên dại chớ cười
Người cần giúp đỡ con thời sẵn tay
Thấy người già yếu qua cầu
Sẵn tay đón rước ơn đâu sánh bằng
Dù cho gian khó nhọc nhằn
Ta vẫn chính đạo đừng tham của người
Thấy người đói rách tơi bời
Dù một lưng gạo cho người cũng hay
Đó là số phận ăn mày
Chẳng ai mong muốn ăn mày, ăn xin
Giúp họ là của để dành
Sau này Trời Phật để dành phần cho
Giúp người như của để kho
Mai kia vận hạn Phật cho lại mình
ở đời có nghĩa có nhân
Mới hòng có phúc được ăn lộc Trời
Đừng như những kẻ vô loài
Bất nhân, bất nghĩa Trời đày xuống hang
Ơn vàng sẽ được trả vàng
Vô nhân đừng có than van kêu trời
Của làm phải đổ mồ hôi
Làm không ăn có là người hôi tanh
Vậy nên con phải tu nhanh
Đừng như những kẻ hôi tanh nỗi lầm
Sau này có phúc có phần
Phật Bà chứng giám, Mẫu dành phần cho
Đừng như những kẻ giả đò
Miệng thì niệm Phật, tâm thì hiểm sân
Như vậy ý nghĩa gì đâu
Thà rằng dốt nát Phật Trời xá cho
Hương trầm thơm ngát mười phương
Con ơi! hãy chọn mùi thơm hương trầm
Đừng nên xa ngã nỗi lầm
Dù rằng nghèo đói, cũng không sai đường
Thấy người xơ xác phải thương
Rách thường cho mặc, đói thời cho ăn
Thương người như thể thương thân
Người ta lỡ bước, khó khăn đến nhà
Đồng tiền, bát gạo mang ra
Của tuy bé tý nhưng mà nghĩa sâu
Hỡi các con hãy tu mau
Kiếp này cực nhọc, kiếp sau thành tài
Hãy nhẫn nhịn, bao dung độ lượng
Đừng tranh giành quên cả nghĩa thân
Mười phần phải nhịn chín phần
Còn một phần nữa Phật Trời xá cho
Đừng như những kẻ đưa đò
ở đời đâu có thước đo được lòng
Đó là đối với người trần
Phật Trời đo được cả lòng con ơi
Trên thiên đã có Phật Trời
ác lại ác báo là nơi sự thường
Làm người ta phải biết thương
Đừng như những kẻ khinh thường làm kiêu
Lộc thì muốn vét cho nhiều
Nhưng mà báng nhạo mọi điều chê bai
Muốn cho con cái thành tài
Tu nhân tích đức mới nên ngai vàng
Tu thời tu ở tại tâm
Phật khắp mọi miền, Phật ở quanh ta
Không phải khoác áo cà sa
Miệng niệm Di Đà mới gọi là tu
Hoa thơm, thơm ở nhụy vàng
Hương thơm một nén, thơm đà khắp nơi
Người thơm để lại tiếng đời
Lộc thơm tuy ít nhưng mà no lâu
Văn thơm dù có một câu
Nhưng mà truyền lại kiếp sau vẫn còn
Con ơi đừng có tham lam
Bớt ra một chút để mà tu tâm
Bao nhiêu lộc ở xa gần
Rồi đây Mẫu xẽ giành phần cho con
Những ai mà đã có công
Phật Bà Bồ Tát chấm công dành dành
Sau này con cái lên danh
Tức là Phật đã giành phần cho con
Dù cho cung cấm lầu son
Tâm vẫn héo mòn, sung sướng gì đâu
Vậy nên đừng có tham giàu
Nghèo mà tâm vẫn bình an hơn người
Hoa kia không sắc vẫn thơm
Có nhụy vẹn toàn một đóa hoa trinh
Con ơi cố gắng truyên hinh
Để cho muôn vạn chúng sinh được nhờ
Việc Thánh con chớ hững hờ
Truyền kinh cứu khổ Mẫu thời độ cho
Chọn người có đức, có tâm
Mẫu gửi tấm lòng truyền dạy chúng sinh
Mẫu khuyên, Mẫu dạy tỏ tường
Để cho con trẻ chúng sinh biết đường
Kinh này truyền khắp mười phương
Thập kinh Tam bảo chúng sinh độ trì
Làm người cần nhất lương tri
Có nghĩa, có nghì trung hiếu mẹ cha
Kính trên nhường dưới thuận hòa
Cùng nhau xây dựng vinh hoa tỏ tường
Hương này thơm ngát mười phương
Con ơi hãy chọn con đường mà đi
Đừng như những kẻ vô tri
Giả vờ câm điếc làm gì nên thân
Có nghĩa thì mới có nhân
Cái nợ nồng lần không tránh được đâu
Thương con Mẫu nặng tâm sầu
Mong sao con trẻ tu mau nỗi lầm
Con ơi một nén hương trầm
Phật Trời chứng giám đâu cần mâm to
Thương con Mẫu mới dặn dò
Truyền kinh cứu khổ đến cho muôn người
Kinh này truyền khắp mọi nơi
Kinh của Phật Trời truyền cứu nhân dân
Hỡi chúng sinh khắp xa gần
Nghe kinh Mẫu dạy muôn phần gắng ghi
Bây giờ khánh hội kì thi
Các con cố gắng Mẫu thời chấm cho
Trên thiên đã xó Phật Trời
Dưới trần Thổ Địa chứng chi lòng người
Ai mà ăn ở bất nhân
Thổ Công, Thần Táo tấu lên Thiên đình
Vậy nên con phải học kinh
Để cho biết được luật trời phép thiên
Dù ai ăn ở đảo điên
Con cứ thảo hiền Phật Mẫu chứng minh
Canh bốn thức dậy dâng kinh
Tam tòa Tứ phủ anh linh độ trì
Con ơi tu ở tại gia
Vẫn được Phật bà chấm điểm dự thi
Cũng như khánh hội khóa kì
Mẫu duyệt, Mẫu lại chấm bài cho con
Mẫu đã trao hẳn bút son
Thì con cố gắng cho lòng Mẫu vui
Bây giờ lọc của, lọc người
Mẫu chọn một người truyền bút giáng kinh
Không phải kinh học một mình
Mà kinh truyền đến chúng sinh muôn loài
Kinh ứng tâm Mẫu đà cho phép
Cứ truyền đi không phải ngại ngần
Con ơi cầm mực nẩy cân
Nếu con ngại ngần kinh lại tồn kho
Sớ kia có hóa thành tro
Sớ có bay đến tận tay Ngọc Hoàng
Kinh kia Mẫu đã duyệt xong
Truyền đi cho khắp mới hòng phúc lai
Thương con Mẫu mới sang tai
Con muốn thành tài làm đúng lời khuyên
Đây là Đức Mẫu Thượng Thiên
Dáng kinh cứu khổ xuống miền trần gian
Hương thơm tấu tới tòa vàng
Cho nên Đức Mẫu chứa chan lệ đầy
Thương con Mẫu giáng về đây
Trao kinh cứu khổ tận tay con trần
Một là con phải ăn năn
Chuộc hết nỗi lầm từ trước đến nay
Sau này thoát cảnh đọa đày
Mấy tầng địa ngục ai thay cho mình
Phụ nữ không được ái tình
Bất lương, bất chính là mình nhuốc nhơ
Chữ “hiếu” tôn thờ nhiều nhất trong tâm
Chữ “nhân” nhắe lại nhiều lần
Con phải ân cần không được làm sai
Chữ “phúc” cùng với chữ “lai”
Hai chữ cộng lại ai ai cũng cần
Chữ “nhục” là chữ lỗi lầm
Con ơi xa lánh muôn phần được khen
Con ơi tôn kính tòa sen
Là con ghi nhớ kinh này trong tâm
Phật Bà Quan Âm soi tâm
Là hết nỗi lầm từ trước đến nay
Con ơi kinh sách đêm ngày
Bút son Mẫu lại trao cho con làm
Bầu trời có mấy vì sao
Bút son bao chữ Mẫu đà cho con
Rồi đây mọi việc vuông tròn
Truyền kinh cứu khổ Mẫu cho mở đường
Dù cho muôn dặm đường trường
Hào quàng sáng tỏ ngỏ đường con đi
Bây giờ khánh hội kì thi
Các con cố gắng được ghi sổ vàng
Thương con giọt lệ chưa chan
Mẫu phải tìm đường giải thoát cho con
Mẫu tuy ở chốn lầu son
Nhưng Mẫu sáng suốt những con ở trần
Con nào khổ ải trầm luân
Con nào bất nghĩa, bất nhân Mẫu tường
Mẫu thương Mẫu sẽ mở đường
Dù con có vội dăm đường đâu thông
Đời người như một dòng sông
Lúc trong, lúc đục, lúc vơi, lúc đầy
Các con tụng niệm lâu ngày
Để cho xá hết đẵng cay nỗi niềm
Tấu lên Đức Mẫu chép biên
Nay Mẫu giáng xuống nơi miền trần gian
Chọn người tâm ngọc lòng vàng
Lòng tin Mẫu gửi bút son tay cầm
Con ơi một nén hương trầm
Không cần nghi lễ đầt mâm đâu mà
Tấu lên đền mẹ, phủ cha
Tấu lên Phật Bà Quan Âm
Con sớm tu thành khỏi lẫm trầm luân
Sau này có phúc có phần
Rồi con sẽ được mười phận vẹn mười
Mẫu cho hoa lá tốt tươi
Rồi con rạng nở nụ cười như hoa
Bao nhiêu nạn khỏi tai qua
Không còn giọt lệ nhạt nhòa trần gian
Các con tấm ngọc lòng vàng
Để cho Đức Mẫu bình an tấm lòng
Thương con Mẫu giảnh đôi dòng
Truyền kinh cứu khổ để lòng Mẫu yên
Van xin tấu tới Thượng Thiên
Động lòng Thượng Mẫu, Vua cha Ngọc Hoàng
Độ cho con thượng bình an
Mẫu sẽ tìm đường cứu khổ cho con
Tuy Mẫu ở chốn lầu son
Lòng Mẫu héo mòn bởi vì chúng sinh
Vậy nên con phải học kinh
Luyện tâm tu tỉnh để mình được tha
Thứ nhất kinh của Chúa Ba
Thứ hai kinh Mẫu, kinh Cha phải tường
Học kinh là lệ sự thường
Học rồi phải luyện, phải rèn theo kinh
Không phải luyện chỉ một mình
Mà cờn phải luyện những người xung quanh
Chim khôn đâu tụ một cành
Người khôn đâu lỡ bỏ anh một mình
Mẫu thương muôn vạn chúng sinh
Mẫu muốn quây quần xum họp bên nhau
Học kinh phải thuộc làu làu
Ngày mai sum họp cùng nhau ăn làm
Thứ nhất quên hẳn lòng tham
Thứ hai trung hiếu, ba là nghĩa nhân
Thứ tư kế nghĩa tri ân
Phải nhất một lòng không được đổi thay
Thứ năm tính nết thẳng ngay
Dù có vạn hạn cũng không thay lòng
Thứ sáu làng xóm xung quanh
Cùng nhau giúp đỡ dưới trên khiêm nhường
Thứ bảy con phải biết thương
Những người đói rách, những người bơ vơ
Những ngườo ốm dắt trẻ thơ
Con ơi bớt chút lương tâm cho người
Thứ tám con chớ có cười
Những người điên dại, những người lầm than
Chín là phải biết họ hàng
Cùng chung một giọt máu đào sinh ra
Mười là ăn nói thật thà
Chính chuyên chọn đạo, tránh xa ái tình
Những ngày Đông chí, Thanh minh
Một nén hương trầm khắp chốn nghĩa trang
Để cho bày tỏ tấm lòng
Trách nhiệm người trần đối với người âm
Dù cho nghi lễ đầy mâm
Sắp ra rồi lại đầy mâm mang về
Thương con Mẫu dạy mọi bề
Mong sao con trẻ bốn bề thuận vui
Mẫu thương giọt lệ đầy vơi
Con ơi ghi nhớ những lời Mẫu khuyên
Đây là Đức Mẫu Thượng Thiên
Truyền kinh cứu khổ khắp miền xa xa
Mẫu về tâu vơid Phật Bà
Xin cho con được hải hà tấm thân
Rồi đây quả đất xoay vần
Cái nợ nồng lần con phải tu mau
Dù cho cách mấy nhịp cầu
Con không quản ngại, kiếp sau con mừng
Mặt trời còn mọc phương Đông
Cái nợ nồng lần không tránh khỏi đâu
Thương con Mẫu nặng tâm sầu
Con ơi ghi nhớ những câu Mẫu truyền
Mẫu đây giáng khắp mọi miền
Hương thơm Mẫu gửi bút tiên tay cầm
Con ơi chuộc hết lỗi lầm
Bao đời, bao kiếp lỗi lầm từ xưa
Dù có dãi nắng dầm mưa
Trời không cho phép chẳng thừa đâu con
Để cho lòng dạ héo mòn
Bao ngày, bao tháng vẫn còn lo âu
Dù cho mấy dặm sông sâu
Con ơi cố gắng truyền mau kinh này
Hoa thơm chỉ có một ngày
Văn thơm để lại kiếp sau vẫn còn
Dù cho sông cạn đá mòn
Lời văn muôn kiếp vẫn còn được ghi
Con ơi mau chuyển kinh đi
Đức Mẫu độ trì con được bình an
Trên thiên lệ Mẫu tuôn trào
Vì thương con dại hai hàng lệ rơi
Bút son Mẫu đã trao rồi
Con ơi bớt chút nghỉ ngơi Mẫu nhờ
Để Mẫu giáng mấy vần thơ
Các con tôn thờ đừng có lãng quên
Chữ “tình”, chữ “hiếu” đè lên
Hai vai gánh nặng lên con héo mòn
Một tay con cầm bút son
Một tay con vẫn phải còn hiếu chung
Lòng con nôn nóng như nung
Làm sao cho được vẹn toàn cả hai
Thức đêm mới biết đêm dài
Nằm trong cảnh ấy biết ai đau lòng
Thương con giọt lệ ròng ròng
Rồi đây Đức Mẫu sẽ giành phần cho
Lộc trời như nước biển Đông
Chỉ sợ đói lòng con chẳng muốn xin
Ba tòa Thánh Mẫu vạn linh
Lỡ để con mình sống cảnh đau thương
Con ơi muôn dặm đường trường
Mẫu phải tìm đường cứu khổ cho con
Dù ở cung cấm, lầu son
Mẫu vẫn nhung nhớ các con ở trần
Những khi mưa bão ầm ầm
Biển dâng nước lớn sóng thần con ơi
Thương con giọt lệ tuôn rơi
Con ở hạ giới con thời biết không
Mẫu sợ con trẻ đói lòng
Sông sâu nước lớn theo dòng cuốn đi
Mẫu thương, Mẫu vẫn độ trì
Nhưng mà mưa bão định kì không sai
Dặm đường con vẫn còn dài
Con ơi cố gắng tu mau sớm chiều
Thương con Mẫu dạy mọi điều
Để con biết được bao đời mà tu
Mẫu là làn gió vi vu
Thổi cho con mát những trưa sớm hè
Mẫu là chiếc áo chở che
Mỗi khi đông giá ở ngay bên mình
Mẫu là tòa sáng Thiên đình
Để Mẫu thắp sáng quang minh soi đường
Mẫu là tiếng hát yêu thương
Ru cho con ngủ đêm trường canh thâu
Mẫu là muôn vạn nhịp cầu
Bắc cho con bước sông sâu đêm ngày
Mẫu là liều thuốc thật hay
Để cho con uống những ngày ốm đau
Mẫu là chiếc nhẫn vàng thau
Tô thêm vẻ đẹp bao ngày con mong
Mẫu là ánh sáng đêm rằm
Để cho đôi trẻ thong dong trên đường
Mẫu là chiếc nón yêu thương
Chở che dãi nắng dầm sương trên đầu
Muốn cho hạnh phúc bên nhau
Đọc kinh cứu khổ thảm sâu vơi đi
Dù cho gian khó hiểm nguy
Đọc kinh cứu khổ bước đi nhẹ nhàng
Dù cho dòng lệ chứa chan
Đọc kinh cứu khổ an khang thuận hòa
Phật cho hưởng phúc hà sa
Con ơi ghi nhớ kinh này trong tâm
Hỡi chúng sinh khắp xa gần
Thương con Mẫu gửi tấm lòng bay đi
Bây giờ khánh hội kì thi
Các con cố gắng vậy thì Mẫu thương
Dù cho cách trở trăm đường
Con phải tìm cách để mà truyền kinh
Đêm khuya vắng vẻ một mình
Mẫu về truyền út giáng kinh con hiền
Mẫu đây ở chốn Thượng thiên
Vì thương con hiền Mẫu mới về đây
Bởi vì con trẻ thơ ngây
Nên chưa hiểu biết Mẫu đây tâm phiền
Giờ dây kinh Mẫu dạy truyền
Con hiền thức trắng bút thiên tay cầm
Lòng son giấy trắng mực hồng
Để cho Mẫu giáng mấy dòng kinh thiên
Hương thơm một nén tấu lên
Con quỷ, con tấu, con cầu, con xin
Xin cha, xin mẹ Thiên đình
Các tòa các cấp Thiên âm độ trì
Bởi con chót dại ngu si
Con xin các cấp muôn phần xá cho
Con xin đươch chữ “ấm no”
Con xin phúc thọ cho thì mẫu thân
Con xin gia trạch bình an
Con xin ún nhỏ học hành hanh thông
Bởi con lắm lỗi nhiều lầm
Con xin Đức Phật muôn phần xá cho
Cơm cha con vẫn chưa no
áo mẹ chưa đủ Mẫu cho con nhờ
Lỗi lầm Mẫu xá, lộc hồng Mẫu ban
Từ nay con đổi tính xưa
Con xin ghi nhớ dòng kinh Mẫu truyền
Mẫu tuy ở chốn Thượng thiên
Thương con lệ nhỏ xuống miền trần gian
Rưng rưng lệ giỏ hai hàng
Mẫu về quỳ tấu Phật Bà Quan Âm
Xin cho xá hết lỗi lầm
Để cho thoát khỏi trầm luân ở đời
Mẫu khuyên con trẻ mấy lời
Con hãy nhớ lấy những lời thờ kinh
Giúp ai con phải nhiệt tình
Đừng dắt giữa lòng con lại đánh rơi
Con vứt họ ở giữa vời
Lênh đênh biển lớn biết thời nhờ ai
Con muốn có phúc, có tài
Giúp họ thành tài con mới an tâm
Nuôi con đủ cánh, đủ lông
Biết bay, biết chạy hết công mẹ hiền
Đừng như những kẻ tham tiền
Giàu thì vàng ngọc, nghèo thì cỏ cây
Thương con Mẫu giáng về đây
Dậy cho hết lẽ, tầng mây Mẫu về
Vợ chồng hết lẽ phu thê
Răng long, đầu bạc lời thề đừng quên
Giữ cho tình cảm vẵng bền
Trăm năm kết tóc đến khi suối vàng
Dù cho vận hạn cơ hàn
Cùng nhau đùm bọc đừng mà quên nhau
Đến khi có ốm có đau
Ta cũng chăm sóc với nhau tận tình
Trung trành giữ dạ thủy chung
Không được thay lòng đổi dạ con ơi
ái tình bất chính nợ đời
Chết xuống âm phủ về nơi đọa đày
Dù cho kinh sách đêm ngày
Một phút bất nghĩa phúc lai đâu còn
Thà rằng mù mịt tối tăm
Ngu xi dốt náy Phật Trời xá cho
ăn cơm con phải biết no
Đọc kinh con phải đắn đo cho tường
đọc kinh là lệ sự thường
Đọc rồi phải biết kỷ cương thế nào
Không phỉa học lấy phong trào
Học rồi chẳng biết thế nào là kinh
Uổng công Đức Mẫu giáng linh
Con trẻ một mình ngồi viết đêm khuya
Con ơi cố gắng miệt mài
Ngày nay kinh sách, ngày mai kinh vàng
Rồi Mẫu sẽ khoác tấm màn
Cho con nhìn thấy bao la chân trời
Dù cho giọt lệ có rơi
Cũng không uổng phí cuộc đời con đâu
Bàn tay đã cầm bút son
Cọp beo chẳng sợ, sóng thần chẳng kinh
Đức Mẫu nay đã giáng linh
ở trên cày bút anh linh đêm ngày
Bút son con đã cầm tay
Đêm ngày kinh sách Mẫu rày độ cho
Dù con cáh mấy chuyến đò
Đọc xong con phải chuyển cho bạn mình
Đèn Mẫu soi sáng lung linh
Để cho con trẻ mang kinh đi truyền
Con truyền khắp mọi miền
Năm châu, bốn bể ở miền trần gian
Bao nhiêu vận hạn cơ hàn
Truyền kinh đi khắp an khang thuận hòa
Mẫu về tấu đối Phật Bà
Cho con được hưởng phúc Bà Như Lai
Thức đêm mới biết đêm dài
Tay cob cầm bút miệt mài sớm khuya
Con ơi đãi cát lọc vàng
Cát kia trôi hết vàng còn trên tay
Công kia kinh sách đêm ngày
Cũng như vàng ấy trên tay cvn cầm
Cũng như một vỉ trầm hương
Đốt xong tro vẫn còn mùi trầm hương
Con ơi dãi nắng dầm sương
Dù cho sương vẫn vấn vương trên đầu
Con ơi cố chịu đừng sầu
Rồi con sẽ được một màu tốt tươi
Dạy con hết lẽ con ơi
Các con ở lại mà ngồi học kinh
Mẫu phải về chốn Thiên đình
Lo cho trên vạn chúng sinh trên tòa
Bao nhiêu lòng sớ thiên hoa
Tấu lên tới cửa Tam tòa Thượng thiên
Vậy nên Mẫu phải về thiên
Để Mẫu xét duyệt chấm bài dự thi
Duyệt rồi sớ mới được ghi
Con nào có đức được ghi sổ vàng
Các con ở lại trần gian
Tu nhân tích đức sớm nhanh thành người.

Truyền thuyết kì bí về Mẫu Thượng Ngàn -Wikipedia

(Thâm cung bí sử) – Theo truyền thuyết, Mẫu Thượng Ngàn chính là công chúa La Bình, con gái của Sơn Tinh và công chúa Mỵ Nương. Khi còn trẻ, Mẫu Thượng Ngàn là 1 cô gái đức hạnh, lại tài sắc vẹn toàn, được cha mẹ đặt tên là La Bình.

La Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơi, từ miền núi non hang động đến miền trung du, đồi bãi. Khi Sơn Tinh và Mỵ Nương, theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế trở về trời thành 2 vị thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, trông coi tất cả 81 cửa rừng…

Tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hóa Việt

Thờ Mẫu là 1 tín ngưỡng dân gian trong đời sống văn hóa của người Việt. Tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ được người đời cho rằng có chức năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con người (như trời, đất, sông nước, rừng núi..) hay thờ những thái hậu, hoàng hậu, công chúa là những người khi sống tài giỏi, có công với dân, với nước, khi mất hiển linh phù trợ cho người an, vật thịnh. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, tục thờ Mẫu có nguồn gốc từ thời tiền sử khi người Việt thờ các vị thần tự nhiên với hình ảnh của các nữ thần Mẹ.

Theo thời gian khái niệm Thánh Mẫu được mở rộng để bao hàm các nữ anh hùng trong dân gian – những người phụ nữ nổi lên trong lịch sử với vai trò người bảo hộ hoặc trị bệnh. Những nhân vật lịch sử này được kính trọng, tôn thờ và cuối cùng được thần thánh hóa để trở thành một trong các hiện thân của Thánh Mẫu.

Các vị nữ thần này được tôn vinh với các chức vị Thánh Mẫu như Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Chúa Xứ Thánh Mẫu, Linh Sơn Thánh Mẫu, Thượng Ngàn Thánh Mẫu… hoặc Quốc Mẫu như Quốc Mẫu Âu Cơ… hay Vương Mẫu như người mẹ của Thánh Gióng được tôn vinh là Vương Mẫu…

Trải qua lịch sử, tín ngưỡng thờ Mẫu ở người Việt đã phát triển hình thành tín ngưỡng Tam phủ với Thiên phủ, Nhạc phủ, Thoải phủ hay Tứ phủ – có thêm Địa phủ. Mẫu Thượng Thiên, còn gọi là Mẫu Đệ Nhất cai quản miền trời. Mẫu Thượng Thiên trong quan niệm của dân gian về Tứ Pháp gồm có: Pháp vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi.

Đó chính là 4 vị nữ thần tạo ra mây, mưa, sấm, chớp liên quan tới văn hóa nông nghiệp lúa nước. Mẫu Thượng Ngàn, còn gọi là Mẫu Đệ Nhị cai quản miền rừng núi. Mẫu Thượng Ngàn gắn bó với con người cùng cỏ, cây, chim, thú.

Mẫu Thượng Ngàn
Mẫu Thượng Ngàn

 

Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở nhiều nơi, nhưng có hai nơi thờ phụng chính là Suối Mỡ thuộc tỉnh Bắc Giang và Bắc Lệ, thuộc tỉnh Lạng Sơn. Mẫu Thủy, có khi gọi chệch là Mẫu Thoải – còn gọi là Mẫu Đệ Tam cai quản miền sông nước.

Mẫu Thoải gắn với đời sống thủy sinh của dân tộc Việt từ xa xưa, liên quan trực tiếp tới Thủy Tổ dân tộc Việt trong buổi đầu dựng nước. Mẫu Địa cai quản đất đai và đời sống sinh vật.

Đến thế kỷ XVI, trên cơ sở tín ngưỡng Tam Phủ, Tứ phủ, với sự ra đời của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một tôn giáo bản địa sơ khai được hình thành – đó là Đạo Mẫu. So với tín ngưỡng thờ nữ thần, với các phủ, các hàng (hàng Cô, Cậu….) tương đối lớp lang, rõ rệt.

Điện thần của Đạo Mẫu có hàng chục vị thần linh nhưng đều quy tụ dưới sự điều khiển củ Tam Toà Thánh Mẫu, trong đó có một vị thần Mẫu cao nhất, mang tư cách như một vị giáo chủ, đó là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được xem như là một hoá thân của Mẫu Thượng Thiên.

Trong điện thần của tín ngưỡng thờ mẫu, Tam Toà Thánh Mẫu được thờ chung một hàng ngang với thứ bậc vị trí rõ ràng: Mẫu Thượng Thiên choàng khăn màu xanh, bên phải là Mẫu Thoải choàng khăn màu trắng.

Khi Thánh mẫu Liễu Hạnh xuất hiện, bà được đề cao, mang tư cách là hoá thân của Mẫu Thượng Thiên. Ở Phủ Giầy, Nam Định tương truyền là quê hương của Mẫu Liễu từ lâu đã trở thành trung tâm thờ Mẫu của người Việt. Những nghi lễ của Đạo mẫu đã bước đầu được chuẩn hoá, trong đó nghi lễ hầu đồng là một điển hình.

Mẫu Thượng Ngàn và truyền thuyết kì ảo

Lâm Cung Thánh Mẫu hay Mẫu Thượng Ngàn hoặc Bà Chúa Thượng Ngàn là một trong 3 vị mẫu được thờ cúng tại điện Mẫu, cạnh đình, chùa của người Việt, chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam.

Bà được tạc thành hình 1 phụ nữ đẹp, phúc hậu, ngồi ở tư thế thiền, chân xếp bằng và 2 tay chắp và mang trang phục màu xanh khi được đặt cùng hai vị mẫu kia là Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Thoải hoặc được thờ riêng trong một điện.

Việc thờ phụng Mẫu Thượng Ngàn là một đặc điểm của tín ngưỡng gắn liền với núi rừng của người Việt. Bà là 1 nhân vật mang tính truyền thuyết và đóng vai trò quan trọng trong tín ngưỡng hầu bóng tam phủ hay tứ phủ.

Theo truyền thuyết, Mẫu Thượng Ngàn chính là công chúa La Bình, con gái của Sơn Tinh và công chúa Mỵ Nương. Khi còn trẻ, Mẫu Thượng Ngàn là một cô gái đức hạnh, lại tài sắc vẹn toàn, được cha mẹ đặt tên là La Bình. La Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơi, từ miền núi non hang động đến miền trung du, đồi bãi.

Trong địa hạt mà Tản Viên Sơn Thánh (chính là Sơn Tinh) cai quản, ông đã dạy dân rất nhiều điều bổ ích cho các hoạt động sinh sống của người dân: từ săn bắn thú dữ đến chăn nuôi gia súc, từ trồng cây ăn quả, trồng lúa nương đến việc đắp ruộng bậc thang, trồng lúa nước đến dựng nhà dựng cửa, hái cây thuốc chữa bệnh.

Sơn Tinh cũng thường cùng các vị sơn thần, tù trưởng luận đàm thế sự và bàn soạn công việc. Do luôn luôn được theo cha như thế nên La Bình cũng học hỏi được rất nhiều điều.

Vốn thông minh sáng dạ, lại chăm chỉ thực hành nên việc gì La Bình cũng biết, cũng giỏi. Những khi Sơn Tinh bận việc hay không thể đi khắp những nơi mà dân chúng cần đến thì La Bình thường được cha cho đi thay.

Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra là 1 người đầy bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp, lại cũng biết thành thạo trong mọi công việc. Các sơn thần, tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, coi nàng là người đại diện xứng đáng của Sơn Thánh.

Còn bản thân nàng, chẳng những hòa hợp, ân cần với mọi người, mà còn rất thân thuộc, quyến luyến với phong cảnh, từ cây cỏ hoa lá đến hươu nai chim chóc.

Khi Sơn Tinh và Mỵ Nương, theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế trở về trời thành 2 vị thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng: từ miền núi non hang động đến miền trung du đồi bãi trập trùng của nước Nam.
Trở thành chúa tể của miền núi non và trung du, công chúa Thượng Ngàn vẫn luôn luôn chăm chỉ, hàng ngày hết sức làm tròn các trọng trách của mình.

Bà bảo ban các loài cầm thú phải biết sống hòa hợp với nhau. Rồi công chúa  lại dạy chúng đừng ăn những loài quả độc, nấm độc, biết tránh khỏi những cây cối đổ, những cơn lũ quét… La Bình công chúa cũng dạy bảo con người cũng thật chu đáo, tỉ mỉ. Những gì cha bà đã dạy, bà đều đem ra áp dụng. Khi tiếp xúc với các tù trưởng, bà cũng học thêm ở họ được nhiều điều.

Thế là bà lại đem những điều hiểu biết mới đi truyền bá ra mãi. Bà cải tiến và hoàn thiện thêm những gì mà trước kia, ở cha bà mới chỉ là bắt đầu. Làm nhà không những đã chắc chắn, lại còn phải biết chạm trổ cho thật đẹp đẽ.

Ở mũi các thuyền độc mộc cũng thế, có khắc cả hình 2 đầu rồng chạm hẳn vào nhau. Cách nấu nướng thức ăn, chẳng những chỉ có kho, luộc mà còn chế thêm ra được nhiều món mới. Rồi công việc đồng áng, bà dạy mọi người cách lấy ống bương để dẫn nước từ khe núi xuống.

 

 Lâm Cung Thánh Mẫu hay Mẫu Thượng Ngàn hoặc Bà Chúa Thượng Ngàn là một trong 3 vị mẫu được thờ cúng tại điện Mẫu, cạnh đình, chùa của người Việt, chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam.
Lâm Cung Thánh Mẫu hay Mẫu Thượng Ngàn hoặc Bà Chúa Thượng Ngàn là một trong 3 vị mẫu được thờ cúng tại điện Mẫu, cạnh đình, chùa của người Việt, chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam.

 

Lại đi phân phát hạt giống, cho nên nơi nào cũng có cơm dẻo nếp thơm. Trong các con vật nuôi trong nhà, bà đem về thêm nhiều giống gia súc mới. Lại trồng thêm nhiều giống cây ăn quả. Rồi trồng cả những hoa thơm cỏ lạ lấy từ trên rừng núi về …

Thấy La Bình công chúa thực hiện rất tốt công việc của mình nên Ngọc Hoàng Thượng đế đã ban tặng cho bà thêm nhiều phép thuật thần thông, đi mây về gió.

Từ đó, La Bình công chúa trở thành vị Thánh bất tử để luôn luôn gần gũi, gắn bó với cõi trần, vĩnh viễn ở miền trung du và núi non hùng vĩ.

Khi dân chúng sinh sôi nảy nở ra thêm, từ miền núi non và trung du tràn xuống các miền đồng bằng và ven biển, đã mang theo những cách thức làm ăn và phong tục tập quán từ hồi còn ở trong rừng, dưới sự bảo ban dìu dắt của công chúa Thượng Ngàn. Vì vậy, nhiều người gọi bà là Mẫu, một cách vừa trìu mến gần gũi mà cũng vừa tôn kính.

Ngoài việc phù trợ cho đời sống hằng ngày của nguời dân, Mẫu Thượng Ngàn còn được xem là đã phù trợ cho các chiến công chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt trong các triều đại. Một truyền thuyết cho rằng hồi đầu thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn, lúc ấy lực lượng nghĩa quân còn yếu, đang đồn trú ở Phản Ấm thì quân Minh kéo đến bao vây.

Nghĩa quân người ít chống cự không nổi, phải tan tác mỗi người mỗi nơi. Trong đêm tối, công chúa Thượng Ngàn đã hóa phép thành bó đuốc lớn, soi đường cho quân sĩ, tập hợp và dẫn dắt họ đi vào đất Mường Yên, về cơ sở núi Chí Linh.

Ánh đuốc thiêng của bà, chỉ quân sĩ của Lê Lợi biết được, còn quân Minh không thể nào nhìn thấy. Ở Chí Linh, nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tập luyện và tập hợp, phát triển thêm lực lượng.

Thật gian khổ, lắm phen không còn lương thực, phải lấy củ nâu củ mài thay cơm, nhưng nhờ sự che chở của công chúa Thượng Ngàn, quân đội của Lê Lợi vẫn ngày một thêm lớn mạnh. Quân Minh nhiều lần đến bao vây cũng đành phải chịu rút về. Từ Chí Linh, quân Lê Lợi tiến vào giải phóng Nghệ An, Thuận Hóa.

Sau đó, với những trận thắng oanh liệt ở Tốt Động, Chúc Động, Chi Lăng và cuối cùng, bao vây quân Minh ở Đông Quan để kết thúc cuộc chiến, lập lại hòa bình cho nước Việt. Vì thế, các triều đại này, sau khi thắng lợi đều có lễ tạ ơn và có sắc thượng phong cho bà là công chúa.

 

Lý Thánh Tông -Wikipedia


Lý Thánh Tông
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết…)
Tượng Lý Thánh Tông tại Văn miếu-Quốc tử giám
Tượng Lý Thánh Tông tại Văn miếu-Quốc tử giám
Vua nhà Lý
Trị vì  10541072
Tiền nhiệm Lý Thái Tông
Kế nhiệm Lý Nhân Tông
Thê thiếp Thượng Dương hoàng hậu Dương thị
Nguyên phi Ỷ Lan
Tên húy
Lý Nhật Tôn
Thụy hiệu Ứng thiên Sùng nhân Chí đạo Uy Khánh Long tường Minh văn Duệ vũ Hiếu đức Thánh thần Hoàng đế
Miếu hiệu Thánh Tông
Triều đại Nhà Lý
Thân phụ Lý Thái Tông
Thân mẫu Kim Thiên hoàng thái hậu Mai thị
Sinh 30 tháng 3, 1023
Mất 1 tháng 2, 1072 (48 tuổi)
An táng Thọ Lăng
Tôn giáo Phật giáo
Nho giáo

Lý Thánh Tông (chữ Hán: 李聖宗; 10231072) là vị vua thứ ba của nhà Lý, cai trị từ năm 1054 đến 1072. Ông tên thậtLý Nhật Tôn (李日尊), sinh tại kinh đô Thăng Long, Hà Nội, Việt Nam.

Cũng như chaông, Lý Thánh Tông là người tài kiêm văn võ. Song, ông còn nổi tiếng là một minh quân có nhiều đức độ trong lịch sử Việt Nam. Ông tận tụy công việc, thương dân như con, được biết đến vì đã đối xử tốt với tù nhân.[2]

Công lao của ông là đặt quốc hiệu Đại Việt, xây dựng Văn Miếu, phá Tống (1060) và bình Chiêm (1069), lấy được ba châu của Chiêm Thành.

Thái tử tài ba

Lý Nhật Tôn là con trưởng của Lý Thái Tông, mẹ là Kim Thiên thái hậu Mai thị. Ông sinh ngày 25 tháng 2 năm Quý Hợi, niên hiệu Thuận Thiên thứ 14 (tức 30 tháng 3 năm 1023) tại cung Long Đức, triều Lý Thái Tổ[1]. Năm 1028, ông được vua cha Lý Thái Tông lập làm Hoàng thái tử.

Thái tử Nhật Tôn sớm tinh thông kinh truyện, rành âm luật, lại giỏi võ nghệ. Ông tỏ ra là người thông minh xuất chúng. Tháng 8 năm Quý Dậu (1033), ông được vua cha phong tước hiệu Khai Hoàng Vương, cho ở cung Long Đức để học tập. Cũng giống như vua cha, ông sớm được tiếp xúc với dân chúng nên hiểu được nỗi khổ của dân và thông thạo nhiều việc.

Năm 15 tuổi (1037), ông được Thái Tông phong làm Đại nguyên soái, cùng cha đi dẹp bạo loạn ở Lâm Tây (Lai Châu) và lập được công.

Năm 1039, Lý Thái Tông đi đánh Nùng Tồn Phúc, Thái tử Nhật Tôn mới 17 tuổi được cử làm giám quốc, coi sóc kinh thành và việc triều chính.

Tháng 4, ngày mồng 1 năm Canh Thìn (1040), ông lại được vua cha giao cho việc xử các vụ kiện tụng trong nước, đặt điện Quảng Vũ cho ông phụ trách.

Tháng 10, ngày mồng 1 năm Nhâm Ngọ (1042), ông được vua cha phong làm Đô thống Đại nguyên soái đi đánh châu Văn (nay thuộc Lạng Sơn). Năm sau, Tháng 3, ngày mồng 1 năm Quý Mùi (1043), ông lại được cử làm Đô thống Đại nguyên soái đi đánh châu Ái (nay thuộc Thanh Hoá).

Ngày Quý Mão, tháng Giêng, năm 1044, Lý Thái Tông đi đánh Chiêm Thành, ông được giao làm Lưu thủ kinh sư.

Tháng 7 năm Nhâm Thìn (1054), thấy mình già yếu, Thái Tông cho phép Thái tử Nhật Tôn ra coi chầu nghe chính sự. Hai tháng sau, vua cha băng hà, ông lên nối ngôi, tức là vua Lý Thánh Tông, lấy niên hiệu đầu là Long Thụy Thái Bình (1054 – 1072).[2]

Cai trị

Hoàng đế nhân từ

Ngay sau khi lên ngôi, vua Thánh Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt.[2] Lý Thánh Tông là một vị vua có lòng thương dân. Nhân một năm trời rét đậm, Thánh Tông bảo các quan hầu cận rằng:

Trẫm ở trong cung ngự sưởi than thú, mặc áo hồ cừu mà còn rét thế này. Huống chi những tù phạm giam trong ngục, phải trói buộc, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc; vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, nhỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm.

Nói rồi vua truyền lấy chăn chiếu cho tù nằm, và mỗi ngày cho hai bữa ăn.

Lại có một hôm, Thánh Tông ra ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có Động Thiên công chúa đứng hầu bên cạnh. Thánh Tông chỉ vào công chúa mà bảo các quan rằng:

Lòng trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại, làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm. Từ rày về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi.

Vua Thánh Tông có nhân từ nên trăm họ mến phục, trong thời ông cai trị ít có việc giặc giã. Là người sùng đạo Phật, Thánh Tông đã xây cất nhiều chùa tháp, đúc chuông đồng lớn. Tuy vậy, ông còn rất chú trọng Nho giáo. Năm 1070, vua cho làm Văn Miếu, đắp tượng thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cũng tế, để mở mang Nho học.

Lý Thánh Tông có người vợ thứ là Nguyên phi Ỷ Lan cũng nổi tiếng có tài trị nước. Nhà vua muộn con, không có thái tử giám quốc như các đời trước khi đi đánh giặc nhưng việc chính sự được yên ổn nhờ tay Nguyên phi Ỷ Lan.

Phá Tống bình Chiêm

Ổn định tình hình trong nước, Lý Thánh Tông chú trọng mở rộng cương thổ.

Về việc binh, Thánh Tông đặt quân hiệu và chia ra làm tả hữu tiền hậu 4 bộ, hợp lại là 100 đội có lính kỵ và lính bắn đá. Còn những phiên binh thì lập ra thành đội riêng. Binh pháp thời Lý Thánh Tông có tiếng là giỏi. Nhà Tống cũng phải dụng tâm học cách tổ chức, phiên chế quân đội Đại Việt.

Tháng 3 năm 1059, ông mang quân vào Khâm châu nước Tống diễu võ dương oai khiến quân Tống phải nể sợ.

Năm 1060, ông lại sai tướng trấn thủ Lạng châu là Thân Thiệu Thái đánh quân Tống can thiệp ở biên giới, bắt được tướng nhà Tống là chỉ huy sứ Dương Bảo Tài. Tháng 7, quân Tống mấy lần phản công nhưng thất bại, phái Thị lang bộ Lại là Dư Tĩnh sang điều đình. Phía Đại Việt, Thánh Tông cử Phí Gia Hậu đi hoà đàm, đối đãi với sứ Tống rất hậu nhưng cương quyết không trả tù binh Dương Bảo Tài.

Nước Chiêm Thành phía Nam hay sang quấy nhiễu, năm 1069 vua Thánh Tông thân chinh đi đánh. Đánh lần đầu không thành công, bèn đem quân trở về. Đi nửa đường đến châu Cư Liên, vua nghe thấy nhân dân khen bà Nguyên phi ở nhà giám quốc, trong nước được yên trị, Thánh Tông nghĩ bụng: “Người đàn bà trị nước còn được như thế, mà mình đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông hèn lắm sao?” Ông bèn đem quân trở lại, đánh bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ (Rudravarman III) Thánh Tông về triều, đổi niên hiệu là Thần Vũ.

Chế Củ xin dâng đất ba châu là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để chuộc tội. Thánh Tông lấy 3 châu ấy và cho Chế Củ về nước. Những châu ấy nay ở địa hạt các huyện Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hoá, Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình và huyện Bến Hải tỉnh Quảng Trị.

Qua đời

Tháng Giêng, ngày Canh Dần, năm Nhâm Tý (tức 1 tháng 2 năm 1072), Lý Thánh Tông băng hà ở điện Hội Tiên[1], trị vì được 17 năm, hưởng thọ 49 tuổi và được an táng ở Thọ Lăng.

Trong thời gian cầm quyền, Thánh Tông đã đặt 5 niên hiệu:

  • Long Thụy Thái Bình (1054 – 1058)
  • Chương Thánh Gia Khánh (1059 – 1065)
  • Long Chương Thiên Tự (1066 – 1067)
  • Thiên Huống Bảo Tượng (1068)
  • Thần Vũ (1069 – 1072)

Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên thay, tức là vua Lý Nhân Tông.

Nhận định

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có lời nhận định về Lý Thánh Tông:

Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, xứng đáng là bậc vua tốt. Song nhọc sức dân xây tháp Báo Thiên, phí của dân làm cung Dâm Đàm đó là chỗ kém.[1]

Lý Thánh Tông là người kế tục xứng đáng chaông trong việc phát triển cơ nghiệp nhà Lý. Tận tụy công việc, thương dân, sửa sang chính trị, làm phương bắc phải kiềng nể, phương nam phải kính sợ. Hơn thế nữa, ông còn xứng đáng là vị vua mở đầu cho quốc hiệu Đại Việt hiển hách. Sự nghiệp của Lý Thánh Tông có ba điểm nhấn lớn trong lịch sử Việt Nam mà đời sau còn nhắc đến nhiều lần: nước Đại Việt, Văn Miếu và mở đất ba châu phía nam.

Nhà Lý tới thời ông trị vì đã hoàn toàn ổn định, vững chắc. Đất nước cường thịnh mà ông để lại cho thái tử, dù còn ít tuổi nhưng vẫn được tiếp quản và kế tục không hề bị khủng hoảng, nghiêng ngả. Đó là nhờ vào đội ngũ nhân sự có tài năng kiệt xuất, trung thành, tận tụy như Nguyên phi Ỷ Lan, Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành v.v… những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam đã được trui rèn, thử thách dưới thời ông.

Gia quyến

 

Lý Thái Tổ – Wikipedia

Lý Thái Tổ
Vua Việt Nam (chi tiết…)
Tượng Lý Thái Tổ tại Hồ Hoàn Kiếm,  Hà Nội, dựng năm 2004
Tượng Lý Thái Tổ tại Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, dựng năm 2004
Hoàng đế nhà Lý
Trị vì  10091028
Tiền nhiệm Nhà Tiền Lê
Kế nhiệm Lý Thái Tông
Thê thiếp 9 hoàng hậu (Trinh Minh, Lập Giáo, Tá Quốc, Lập Nguyên,…)
Tên thật
Lý Công Uẩn
Niên hiệu
Thuận Thiên: 1010 – 1028
Thụy hiệu Thần Vũ Hoàng Đế
Miếu hiệu Thái Tổ
Triều đại Nhà Lý
Thân phụ Hiển Khánh Vương
Thân mẫu Minh Đức thái hậu Phạm thị
Sinh 8 tháng 3, 974
Từ Sơn, Bắc Ninh
Mất 31 tháng 3, 1028 (54 tuổi)
An táng Thọ Lăng
Tôn giáo Phật giáo

 

Lý Thái Tổ (9741028) là vị Hoàng đế đầu tiên của nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1009 đến khi qua đời năm 1028. Dưới triều nhà Tiền Lê, ông làm quan đến chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, là một chức quan võ chỉ huy quân đội bảo vệ kinh đô Hoa Lư bấy giờ. Ông được lực lượng của Đào Cam Mộc và sư Vạn Hạnh tôn làm vua sau khi vua Lê Long Đĩnh qua đời. Dưới triều ông, triều đình trung ương được củng cố,[1] các thế lực phiến quân bị đánh dẹp, kinh đô được dời từ Hoa Lư về thành Đại La vào tháng 7 năm Thuận Thiên thứ hai (1010), và thành này được đổi tên thành Thăng Long.

 

 

Thân thế

 

Lý Thái Tổ (chữ Hán: 李太祖) húy là Lý Công Uẩn (李公蘊) sinh ngày 12 tháng Hai năm Giáp Tuất[2] (tức 8 tháng 5 năm Mậu Thìn âm lịch, 6 tháng 6 năm 974 dương lịch), là người ở hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay ở xã Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có đền thờ) .[3] Mẹ là người họ Phạm. Khi lên 3 tuổi, mẹ ông đem ông cho sư Khánh Văn, trụ trì chùa Cổ Pháp làm con nuôi và đi tu từ đó. Đến 7 tuổi, ông được cha nuôi gửi cho một người bạn là thiền sư nổi tiếng là Vạn Hạnh dạy dỗ.

 

Lớn lên, với sự bảo hộ của sư Vạn Hạnh, ông vào kinh đô Hoa Lư làm quan nhà Tiền Lê, thăng đến chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ông là người khoan thứ nhân từ, có lượng đế vương. Các sử gia ghi chép không thống nhất về nguồn gốc và thân thế của ông[4][5][6]. Ông đã được sư Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ khen như sau:

 

Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ.

Sư Vạn Hạnh[2]

 

Thời Tiền Lê

 

Lý Công Uẩn lớn lên thời Lê Đại Hành, ông theo giúp hoàng tử Lê Long Việt.

 

Năm 1005, Lê Đại Hành mất, các con tranh giành ngôi vua. Năm 1006, Lê Long Việt giành được ngôi báu, trở thành vua Lê Trung Tông. Nhưng chỉ được 3 ngày Trung Tông bị em là Lê Long Đĩnh giết hại giành ngôi. Lúc đó các quan đều sợ hãi bỏ chạy, chỉ có Lý Công Uẩn đến ôm xác Trung Tông khóc.

 

Lê Long Đĩnh không những không trị tội mà khen Lý Công Uẩn là người trung nghĩa, tiếp tục trọng dụng ông vào chức cho làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ, rồi sau đó thăng đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ.

 

Theo “Ngọc phả các vua triều Lê” ở các di tích cố đô Hoa LưNinh Bình, Lý Công Uẩn hàng năm theo thiền sư Lý Vạn Hạnh vào hầu vua Lê ở thành Hoa Lư, Công Uẩn được vua yêu, cho ở lại kinh thành học tập quân sự. Vua lại gả con gái cả là Lê Thị… sinh ra Lý Phật Mã và đặc phong cho Công Uẩn làm Điện tiền cận vệ ở thành Hoa Lư. Dần dần, Công Uẩn thăng lên chức Điện tiền chỉ huy sứ. Chức ấy chỉ dành cho hoàng tộc hoặc quốc thích mới được trao. Chính nhờ vậy mà về sau, Lý Công Uẩn đã đem ngôi vua về cho họ Lý.[7]

 

Lên ngôi

 

Các bộ sử cổ của Việt Nam như như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thưKhâm định Việt sử thông giám cương mục thống nhất chép rằng tháng 10 năm 1009, vua nhà Tiền LêLong Đĩnh mất, các con còn nhỏ, quan Điền tiền chỉ huy sứ là Lý Công Uẩn được sự ủng hộ của Chi nội là Đào Cam Mộc cùng thiền sư Vạn Hạnh đã lên ngôi hoàng đế; các quan trong triều đều nhất trí suy tôn[8][9]; thái hậu nhà Tiền Lê (vợ Lê Đại Hành) gọi ông vào cung mời lên ngôi vua[10].

 

Riêng trong sách Đại Việt sử ký tiền biên, sử gia Ngô Thì Sĩ ghi lại lời nghi vấn về việc Lý Công Uẩn giết Lê Long Đĩnh để đoạt ngôi[11]:

 

Có người nói Khai Minh vương hung hãn bạo ngược,… Lý Thái Tổ rất căm phẫn trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai Minh Vương, nhân lúc Khai Minh Vương bệnh tật, sai người vào đầu độc giết đi rồi giấu kín việc đó, nên sử không được chép, nếu quả như vậy, cũng là đạo Trời hay báo, nên chép phụ vào để làm răn

Đại Việt sử ký tiền biên – Ngô Thì Sĩ

 

Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư cũng chép thái độ của Lý Công Uẩn sau khi nghe Vạn Hạnh khuyên giành lấy ngai vàng, nhưng không nói tới việc giết Lê Long Đĩnh:

 

Công Uẩn sợ câu nói ấy tiết lộ, bảo người anh em đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Sơn. Song từ đấy cũng lấy thế tự phụ, mới nảy lòng ngấp nghé ngôi vua

Đại Việt Sử ký Toàn thư[12].

 

Tuy nhiên, các bộ sử, kể cả Đại Việt sử ký tiền biên, đều ghi nhận việc trăm quan của triều đình cũ suy tôn Lý Công Uẩn khi ông lên ngôi và sử sách không ghi nhận một cuộc nổi dậy nào của những người nhân danh trung thành với nhà Tiền Lê để chống lại nhà Lý sau khi triều đại này hình thành.

 

Tượng đài Lý Thái Tổ (21,18456701°B 106,07636702°Đ) tại trung tâm thành phố Bắc Ninh

 

Đại Việt sử lược có ghi chép:[13]

 

Trong làng vua có cây bông gạo bị sét đánh, để dấu vết thành bài văn, trong đó có những câu:
Phiên âm:
Thụ căn yểu yểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành

Tạm dịch:
Gốc rễ thăm thẳm
Vỏ cây xanh xanh
Lúa dao cây rụng
Mười tám hạt thành

 

Theo phép chiết tự chữ Hán, mấy câu này ẩn ý nhà Lê sẽ mất (cây rụng) và nhà Lý (thập () + bát () + tử () thành chữ ()) sẽ nổi lên. Sư Vạn Hạnh bèn nói với Lý Công Uẩn rằng: “Gần đây tôi thấy bài sấm văn lạ, biết nhà Lê đương mất mà nhà Lý đương lên. Họ Lý lại không có ai khoan hòa, nhơn hậu và trung thứ như ông, nên rất được lòng dân. Nay tuổi của tôi đã hơn 70 rồi, chỉ sợ không kịp thấy sự thịnh trị mà lấy làm giận”. Lý Công Uẩn sợ lời nói tiết lộ ra nên bảo Vạn Hạnh vào ẩn ở Ba Sơn”.

 

Còn Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Chính biên, Quyển I thì nêu ra lời phê về sấm truyền họ Lý sẽ làm vua:

 

Bờ cõi Bắc Nam tuy có khác, nhưng vận hội vẫn như nhau: nhà Lê thì có chuyện khoác áo long cổn, nhà Lý thì lời sấm truyền ghi trên thân cây, sao mà giống chuyện với bên Tống thế! Hay là người làm sử thấy thế, gò ép gán gẩm vào với nhau để cho thần dị câu chuyện, chứ trời kia có ý làm ra như thế đâu?

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục[14].

 

Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế tháng 11, ngày Quý Sửu, năm Kỷ Dậu[15] (tức 21 tháng 11 năm 1009), đặt niên hiệu là Thuận Thiên (nghĩa là “theo ý trời”). Ông phong cha là Hiển Khánh Vương, mẹ là Minh Đức Thái hậu, chú là Vũ Đạo Vương, anh ruột là Vũ Uy Vương, em ruột là Dực Thánh Vương. Ông lập sáu vương hậu, con trưởng ông là Lý Phật Mã được phong Khai Thiên Vương, lập làm Thái tử. Các con trai khác của ông cũng được phong vương. Đồng thời, con gái lớn của ông là An Quốc công chúa Lý Thiềm Hoa được gả cho Đào Cam Mộc, Đào Cam Mộc cũng được phong Nghĩa Tín Hầu.[13] Một người con gái khác là Lĩnh Nam công chúa là Lý Bảo Hòa cho động chủ Giáp Thừa Quý.

 

Trị vì

 

Dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long

 

 

Cố đô Hoa Lư, nơi núi non hiểm trở

 

Đối với Lý Công Uẩn, ý tưởng tái lập nơi đặt bộ máy điều hành đất nước ở vị trí trung tâm đồng bằng sông Hồng là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của đất nước đương thời hẳn đã hình thành từ lâu, nhưng thời điểm mang tính quyết định việc dời đô từ Hoa Lư về Đại La có xuất phát điểm là chuyến thăm quê vào mùa xuân năm 1010. Ngay sau khi lên ngôi, ông đã về thăm quê và hình thành rất nhanh quyết định dời đô.Lý Thái Tổ thấy đất Hoa Lư, cố đô của Đại Cồ Việt chật hẹp không có thể mở mang ra làm chỗ đô hội được, bèn định dời đô về thành Đại La (hay La Thành), ngày nay là Hà Nội. Quyết định rời bỏ hẳn một kinh đô từ vùng núi non hiểm trở ra vùng đồng bằng có thể cho thấy bản lĩnh và tầm nhìn của vị hoàng đế khai sáng ra triều Lý và thủ đô Hà Nội của Việt Nam. Trong Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu), Lý Thái Tổ khẳng định làm thế không phải theo ý riêng như các cựu triều ĐinhTiền Lê, mà để mưu việc lớn, thấy thuận tiện thì thay đổi[16]. Cũng trong Chiếu dời đô, ông còn viết Thăng Long là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.

 

Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận:[2]

 

Bề tôi đều nói: “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo”. Vua cả mừng.

 

Tháng 7 năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) thì khởi sự dời đô. Khi ra đến La Thành, ông lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng bay lên trời nên đổi tên Đại La thành sang Thăng Long thành, và cải Hoa Lư làm Trường An phủCổ Pháp làm Thiên Đức phủ.

 

Tôn giáo

 

Tượng thờ vua Lý Thái Tổ ở chùa Kiến Sơ, Gia Lâm, Hà Nội

 

Triều Lý bấy giờ sùng đạo Phật, nên những người đi tu, lấy tiền kho ra để xây chùa, đúc chuông được nhà vua trọng đãi. Tháng 6 năm Thuận Thiên thứ 9 (Mậu Ngọ 1018),[13] Lý Thái Tổ sai quan là Nguyễn Đạo ThanhPhạm Hạc sang nhà Tống (Trung Quốc) thỉnh kinh Tam Tạng đem về để vào kho Đại Hưng.[17]

 

Chính trị

 

Lúc bấy giờ nhà Tống của Trung Quốc bận nhiều việc nên không sinh sự lôi thôi gì với Đại Việt. Bởi vậy khi Lý Thái Tổ lên ngôi, sai sứ sang cầu phong, hoàng đế nhà Tống cho làm Giao Chỉ quận vương, sau lại gia phong làm Nam Bình vương vào năm 1017 (thời Tống Chân Tông). Các vương quốc láng giềng như Chiêm ThànhChân Lạp đều sang triều cống, cho nên việc bang giao thời bấy giờ được yên trị. Năm Thuận Thiên thứ 11 (Canh Thân 1020), ông lệnh cho con đem quân đi đánh Chiêm Thành, và giành chiến thắng.[13]

 

Vua Thái Tổ lưu tâm về việc sửa sang trong nước: đổi phép cũ của nhà Tiền Lê; chia nước ra làm 24 lộ, gọi Hoan ChâuÁi Châu là trại. Năm 1013, lại định ra 6 hạng thuế là: thuế ruộng, đầm, ao; thuế đất trồng dâu và bãi phù sa; thuế sản vật ở núi; thuế mắm muối đi quan Ải quan; thuế sừng tê giác, ngà voi và hương ở trên mạn núi xuống; thuế tre gỗ hoa quả. Ông cho những bậc công chúa coi việc trưng thu các thứ thuế ấy.

 

Lý Thái Tổ còn thực hiện chính sách “thân dân”. Dưới triều ông, có nhiều lần nhân dân được xá thuế, chẳng hạn như tô thuế được xá 3 năm vào năm 1016. Đến năm 1017, tô ruộng cũng được xá.[1]

 

Đánh dẹp

 

Ở trong nước cũng có đôi ba nơi nổi lên làm loạn, như ở Diễn Châu (thuộc Nghệ An) và ở mạn thượng du hay có sự phản nghịch, nhà vua phải thân chinh đi đánh dẹp mới yên được. Thời bấy giờ các hoàng tử đều phong tước vương và phải cầm quân ra chiến trường, bởi vậy ai cũng giỏi nghề dùng binh.

 

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tháng Hai năm Tân Hợi (1011), tức là năm Thuận Thiên thứ hai, vua Lý Thái Tổ mang sáu quân đi phạt quân Cử Long ở Ái Châu. Quân Cử Long thất bại, bộ lạc bị đốt và người cầm đầu bị bắt và giải về.

 

Tháng 10 năm Thuận Thiên thứ 4 (Quý Sửu 1013), vua Thái Tổ thân chinh đánh quân Man ở châu Vị Long, quân ông giành chiến thắng.

 

Có lần ông đem quân đi đánh Diễn Châu. Khi ông về tới Vũng Biện, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội. Thấy vậy, ông đốt hương và khấn trời:

 

“Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha không đánh. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét”.

 

Sau khi ông khấn, gió sấm không còn dữ dội nữa và trở nên yên lặng.[2]

 

Năm Thuận Thiên thứ 5 (Giáp Dần 1014), được lệnh của Lý Thái Tổ, Dực Thánh Vương đánh dẹp quân Man. Theo Đại Việt Sử Lược, ở Lộ Kim Hoa, quân của Dự Thánh Vương đánh bại tướng Man là Đỗ Trương Huệ, chém vạn đầu giặc, bắt được quân sĩ và ngựa nhiều vô số. Ly Châu dâng con Kỳ Lân. Đổi phủ Ứng Thiên làm Nam Kinh. Chân Lạp sang cống. [13]

 

Năm Thuận Thiên thứ 13 (Nhâm Tuất 1022), ông ra lệnh cho Dực Thánh Vương đánh dẹp Đại Nguyên Lịch.

 

Năm Thuận Thiên thứ 15 (Giáp Tý 1024), Thái tử được lệnh ra quân đánh châu Phong Luân, còn Khai Quốc Vương thì đánh Châu Đô Kim. Thành Thăng Long được xây.

 

Năm Thuận Thiên thứ 18 (Mậu Thìn 1028), Thái tử lại được lệnh đánh châu Thất Nguyên, Đông Chinh Vương cũng đi đánh Châu Văn.[13]

 

Qua đời

 

Theo Đại Việt sử lược, năm Mậu Thìn 1028 (tức năm Thuận Thiên thứ 19), sức khỏe nhà vua không được tốt. Ông qua đời ở điện Long An[13] vào tháng 3, năm Mậu Tuất (tức ngày 31 tháng 3 năm 1028). Ông ở ngôi 19 năm, hưởng thọ 55 tuổi. Ông được táng ở Thọ Lăng, Thiên Đức phủ, miếu hiệuThái Tổ, thụy hiệuThần Vũ Hoàng đế, tôn hiệuPhụng Thiên Chí Lý Ứng Vận Tự Tại Thánh Minh Long Hiện Duệ Văn Anh Vũ Sùng Nhân Quảng Hiếu Thiên Hạ Thái Bình Khâm Minh Quảng Trạch Chương Minh Vạn Bang Hiển Ứng Phù Cảm Uy Chấn Phiên Man Duệ Mưu Thần Trợ Thánh Trị Tắc Thiên Đạo Chính Hoàng Đế.

 

Khi Lý Thái Tổ vừa qua đời, việc tế táng lại chưa hoàn tất, thì ba hoàng tử Võ Đức Vương, Dực Thánh Vương và Đông Chinh Vương cùng quân sĩ vây hãm thành, nhằm mục đích cướp ngôi Thái Tử.[17] Được sự giúp đỡ của Lê Phụng Hiểu,[18] Thái tử Lý Phật Mã lên nối ngôi, tức là vua Lý Thái Tông – vị vua thứ hai của nhà Lý.

 

Gia quyến

 

  • Cha: không rõ (được truy tôn là Hiển Khánh vương)
  • Mẹ: Phạm thị (được truy tôn là Minh Đức thái hậu)
  • Anh em trai:
    • Vũ Uy vương (anh, không rõ tên)
    • Dực Thánh vương (em, không rõ tên)
  • Vợ: 9 hoàng hậu, trong đó có một số người được sử ghi danh hiệu hoặc họ:[19]

 

  • Con trai:
  • Con gái: 13 người, chỉ có 1 người được sử ghi danh hiệu:
    • An Quốc công chúa (gả cho Đào Cam Mộc)
    • An Khánh công chúa (là út)

 

Nhận định

 

Tượng Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông ở đền Lý Bát Đế

 

Các sử gia phong kiến Việt Nam theo quan điểm Nho giáo có chê trách ông ở mặt quá sùng tín vào đạo Phật, chê trách cơ cấu tổ chức của triều đình ông không phù hợp với quan niệm của họ.

 

Sử gia Lê Văn Hưu phê bình trong Đại Việt sử ký:

 

Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo cho con cháu xa xỉ lười biếng, thế mà Thái Tổ để phép lại như thế, chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật, lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc há chẳng phải từ đấy?

sách này không còn, dẫn lại theo Đại Việt sử ký toàn thư.[2]

 

Cũng trong Đại Việt Sử ký, Lê Văn Hưu so sánh:

 

Có người hỏi: Lê Đại Hành với Lý Thái Tổ ai hơn? Thưa rằng: Kể về mặt trừ dẹp gian trong, đánh tan giặc ngoài, làm mạnh nước Việt ta, ra oai với người Tống thì Lý Thái Tổ không bằng Lê Đại Hành có công lao gian khổ hơn. Nhưng về mặt tỏ rõ ân uy, lòng người suy tôn, hưởng nước lâu dài, để phúc cho con cháu thì Lê Đại Hành không bằng Lý Thái Tổ lo tính lâu dài hơn. Thế thì Lý Thái Tổ hơn ư? Đáp: Hơn thì không biết, chỉ thấy đức của họ Lý dày hơn họ Lê, vì thế nên nói theo họ Lý.

sách này không còn, dẫn lại theo Đại Việt Sử ký Toàn thư,[12]

 

Sử thần Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt Sử ký Toàn thư bình rằng:

 

Lý Thái Tổ dấy lên, trời mở điềm lành hiện ra ở vết cây sét đánh. Có đức tất có ngôi, bởi lòng người theo về, lại vừa sau lúc Ngọa Triều hoang dâm bạo ngược mà vua thì vốn có tiếng khoan nhân, trời thường tìm chủ cho dân, dân theo về người có đức, nếu bỏ vua thì còn biết theo ai! Xem việc vua nhận mệnh sâu sắc lặng lẽ, dời đô yên nước, lòng nhân thương dân, lòng thành cảm trời, cùng là đánh dẹp phản loạn, Nam Bắc thông hiếu, thiên hạ bình yên, truyền ngôi lâu đời, có thể thấy là có mưu lược của bậc đế vương. Duy có việc ham thích đạo Phật, đạo Lão là chỗ kém.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư[2].

 

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục chính biên quyển thứ 2 nhận định:

 

Nhà Lý được nước, cũng không phải chính nghĩa cho lắm, nhưng đương buổi Lê Ngoạ Triều, lòng người lìa tan, sinh dân vô chủ, không về với Công Uẩn còn biết theo ai?

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục [14].

 

Vinh danh

 

Lý Thái Tổ và các vị vua nhà Hậu Lý được thờ ở đền Đô tỉnh Bắc Ninh. Hiện nay, có một ngôi đền thờ riêng ông được xây dựng từ vốn các công trình 1000 năm Thăng Long do Hà Nội kết hợp với Ninh BìnhĐền Vua Lý Thái Tổ đặt tại trung tâm khu di tích Cố đô Hoa Lư.

 

Nhiều địa phương lấy tên ông đặt cho một số đường phố: phố Lý Thái Tổ ở Hà Nội, phố Lý Công Uẩn ở Hải Dương… Tại Hà Nội và Bắc Ninh đều có dựng tượng đài ông.

 

Tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Ban Chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội và nhiều đơn vị đã lên kế hoạch làm phim về Lý Công Uẩn với quy mô lớn như các bộ phim Chiếu dời đô, Đường tới thành Thăng Long, người con của rồng,…

 

Năm 2004, một tượng đài Lý Thái Tổ được xây dựng tại trục đ­ường Đinh Tiên Hoàng thuộc khu vực vườn hoa Chí Linh, Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội theo mẫu của nhà điêu khắc Vi Thị Hoa, bằng đồng (nặng 14 tấn, cao 3,3 m) thuộc dạng công trình chào mừng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội. Tuy nhiên, theo một số ý kiến cho rằng “tượng vua nước Nam nhìn lại giống… Tần Thủy Hoàng“, với trang phục giống của Tần Thủy Hoàng và “khi rời đô về Thăng Long Lý Thái Tổ mới 36 tuổi nhưng gương mặt vua Lý trong tượng như ngoài 60” [23]. Bà Vi Thi Hoa cho biết là không có tài liệu vật thể nào về khuôn mặt, trang phục của Lý Thái Tổ và “Chúng tôi sáng tác mang tính ước lệ”[23].

 

Tháng 8 năm 2011, chiếc tàu hộ tống mang tên lửa lớp Gepard 3.9 (Project 11661E) thứ hai của Hải quân nhân dân Việt Nam – HQ 012 – được đặt tên là Lý Thái Tổ.

 

Trong điện ảnh

 

 

 

hú thích

 

  1. ^ a b Vua Lý Thái Tổ
  2. ^ a b c d e f Đại Việt sử ký toàn thư, Bản Kỷ Toàn Thư, Quyển 2, Kỷ nhà Lý, Mục Thái Tổ Hoàng đế.
  3. ^ Châu là đơn vị hành chính thời Lý như cấp huyện hiện nay. Châu Cổ Pháp tương ứng với vùng Từ Sơn, Tiên Du bây giờ. Hương Diên Uẩn không rõ là nơi nào trong châu Cổ Pháp.
  4. ^ Hiện các nhà sử học vẫn còn chưa có kết luận cuối cùng về làng nào trong số các làng thuộc hương Cổ Pháp là quê hương của Lý Công Uẩn. Nhà sử học Nguyễn Quang Ngọc có trích dẫn các nghiên cứu của nhà sử học Trần Quốc Vượng cho rằng quê cha của Lý Công Uẩn là làng Dương Lôi. Ngày nay ở đây vẫn còn đền thờ 8 vị vua nhà Lý. Làng có 8 giáp, mỗi giáp thờ 1 vị vua nhà Lý. Trần Quốc Vượng cũng xác định rằng mộ của Hiển Khánh Vương, cha của Lý Công Uẩn, nằm tại khu Rừng Miễu, làng Dương Lôi. Còn quê mẹ Lý Công Uẩn, cũng theo Nguyễn Quang Ngọc trích dẫn bia Lý gia linh thạch tại chùa Tiêu, là xã Hoa Lâm, Đông Ngàn, phủ Từ Sơn xưa (nay thuộc xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội). Khu Thọ Lăng (là nơi chôn cất các vua nhà Lý) xưa là nơi cả 3 làng Đình Bảng, Dương Lôi, và Đại Đình được giao chăm sóc, mới chỉ thuộc về địa phận của làng Đình Bảng khoảng 100 năm nay. (Nguyễn Quang Ngọc, Góp phần nhận diện lại quê hương Nhà Lý, tham luận tại hội thảo “Những phát hiện khảo cổ học mới ở Đông Anh (Hà Nội) và vấn đề quê hương nhà Lý”, Hà Nội, 27 tháng 12 năm 2008.)
  5. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, quyển II, Kỷ nhà Lý, Thái Tổ hoàng đế, trang 240 chép: “Thái Tổ hoàng đế, họ Lý, tên húy là Công Uẩn, người châu Cổ Pháp Bắc Giang, mẹ họ Phạm, đi chơi chùa Tiêu Sơn cùng với người thần giao hợp rồi có chửa, sinh vua ngày 12 tháng Hai năm Giáp Tuất (974), niên hiệu Thái Bình năm thứ 5 thời Đinh. Lớn lên làm quan nhà Lê, thăng đến chức Điện tiền chỉ huy sứ. Khi Ngọa Triều băng, tự lập làm vua… là người khoan thứ nhân từ, tinh tế hòa nhã có lượng đế vương. Song chưa làm sáng chính học, lại ưa thích dị đoan, bị lụy vì chuyện đó.
  6. ^ Đại Việt sử ký tiền biên, bản kỷ, quyển II, trang 192 chép rằng: “Theo bài Tiêu Sơn tự ký thì Thái hậu cảm thụ tinh con khỉ bạch mà sinh ra vua ở chùa này, sư Vạn Hạnh đưa về nuôi. Theo ngoại truyện thì: mẹ vua năm 20 tuổi, do nghèo túng lam lũ không có chồng, nương tựa vào vị sa môn già ở chùa Ứng Thiên cho làm việc nấu bếp, đêm đêm dậy đồ xôi. Một hôm bà ngủ quên, lửa tắt, sa môn vô tình chạm phải, giật mình tỉnh dậy thấy lòng xáo trộn rồi có thai, bị sa môn đuổi đi, bà vào chùa khác, đủ tháng thì sinh ra vua… Vua lúc bé thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường, khi 7 tuổi Khánh Văn gửi nhờ sư Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ dạy cho học“.
  7. ^ NGỌC PHẢ CÁC VUA TRIỀU LÊ, Trần Bá Chí, đăng trên Báo Hán Nôm của VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM – VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM, năm 2010
  8. ^ Đại Việt Sử ký Toàn thư Bản kỷ, quyển II, Kỷ nhà Lý, Thái Tổ hoàng đế
  9. ^ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 2
  10. ^ Ngô Thì Sĩ, sách đã dẫn, tr 225
  11. ^ Ngô Thì Sĩ, sách đã dẫn, tr 223
  12. ^ a b Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, Kỷ nhà Lê, Đại Hành hoàng đế
  13. ^ a b c d e f g Đại Việt sử lược: Quyển nhị: Vua Thái Tổ
  14. ^ a b Khâm Định Việt sử Thông giám Cương mục, Chính biên, quyển II
  15. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Bản Kỷ Toàn Thư, Quyển 1, Kỷ nhà Lê, Mục Ngọa Triều Hoàng đế.
  16. ^ Chiếu dời đô có đoạn: Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời, theo nản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.
  17. ^ a b Việt Nam Sử Lược, Chương IV: Nhà Lý (1010 – 1225)
  18. ^ Theo Việt Nam Sử Lược, Bấy giờ các quan là bọn Lý nhân Nghĩa xin Thái-tử cho đem quân ra thành quyết được thua một trận. Khi quân của Thái-tử và quân các vương đối trận, thì quan Võ-vệ tướng-quân là Lê phụng Hiểu rút gươm ra chỉ vào Võ-đức-vương mà bảo rằng : “Các người dòm-ngó ngôi cao, khinh-dể tự-quân, trên quên ơn Tiên-đế, dưới trái nghĩa tôi con, vậy Phụng Hiểu xin dâng nhát gươm này!” Nói xong chạy xông vào chém Võ-đức-vương ở trận tiền. Quân các vương trông thấy sợ-hãi bỏ chạy cả. Dực-thánh-vương và Đông-chinh-vương cũng phải chạy trốn.
  19. ^ Lý Thái Tổ có đến…9 bà Hoàng hậu, PV – Báo Phụ nữ, ngày 06/06/2011
  20. ^ Sử không xác định bà có phải chính là một trong 3 người có danh hiệu Tá Quốc, Lập Nguyên và Lập Giáo hay không
  21. ^ 4 đền, chùa cầu duyên linh thiêng nức tiếng gần xa – 3. Chùa Duyên Ninh, Kim Giang, Tờ báo Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam, ngày 09-02-2011
  22. ^ Vua Lý Thái Tổ làm rể vua Lê Đại Hành, Lê Thái Dũng, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, 13/09/2011
  23. ^ a b Khó khởi công xây dựng tượng đài Lý Thái Tổ vào dịp 10/10

Danh nhân đời Trần- wikipedia

Trần Quốc Toản

Trần Quốc Toản
Hoài Văn hầu
Tướng nhà Trần
Đăng quang 1282
Thân phụ Không rõ. Xem thảo luận
Sinh 1267[1]

Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản (chữ Hán: 懷文侯 陳國瓚, 1267-1285)[1] là một quý tộc nhà Trần, sống ở thời kỳ trị vì của vua Trần Nhân Tông, có công tham gia kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai.

Dấu ấn lịch sử

Tháng 10 năm 1282, các vua Trần mở hội nghị Bình Than để bàn kế chống quân Nguyên. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: Vua thấy Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn kích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết. Sau đó Quốc Toản lui về, huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ :”Phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh, báo ơn vua). Sau này, khi đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch.[2] Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước vương.

Tháng 4 năm 1285, vua Trần Nhân Tông sai Chiêu Thành vương, Hoài Văn hầu Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái đem tiệp binh đón đánh quân Nguyên ở bến Tây Kết.

Ngày 10 tháng 5 năm đó có người về báo cho hai vua Trần là thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại quân giặc ở các xứ Kinh Thành, Chương Dương. Quân giặc tan vỡ lớn… Thoát Hoan, Bình chương A Lạt rút chạy qua sông Lô.

Trong các sử sách của Việt Nam như Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Việt sử Tiêu án và các quyển sử soạn gần đây như Việt sử tân biên của Phạm Văn Sơn, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm đều không thấy đề cập đến cái chết của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản. Chỉ có ĐVSKTT bản kỷ quyển V có viết: “… Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước Vương”[3]. Nhưng các quyển sử của nhà Nguyên lại có đề cập đến cái chết của ông. An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 8a10 có ghi: Quan quân đến sông Như Nguyệt, thì Nhật Huyên sai Hoài Văn hầu đến đánh..[4]. “Kinh thế đại điển tự lục” trong “Nguyên văn loại” 41 tờ 27b 1-2 có viết:… Đến sông Như Nguyệt, Nhật Huyên sai Hoài Văn Hầu đến đuổi thì bị giết. Theo sách Việt sử kỷ yếu của Trần Xuân Sinh thì khi Ô Mã Nhi đánh vào Vân Đồn để cướp lại lương thực thì quân của Trần Quốc Toản và Trần Khánh Dư chống đỡ kịch liệt. Quốc Toản hăng hái cự địch, không may qua đời ngày 2 tháng 2 âm lịch.

Ảnh hưởng

  • Quốc Toản đã đi vào lịch sử với lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước, dám hi sinh mạng sống vì dân tộc của mình. Khí phách ấy đã được nói rõ trên lá cờ thêu sáu chữ vàng của ông; nguyên văn sáu chữ (phiên sang Hán-Việt) là:
Phá cường địch, báo hoàng ân (Phá giặc mạnh, báo ơn vua).
  • Tên của ông được đặt cho nhiều ngôi trường tiểu học, trung học ở Việt Nam, một số con đường của các thành phố, tỉnh…., ngoài ra tên của ông còn được đặt cho một chiến hạm HQ-06 của Hải quân Việt Nam Cộng hòa.
  • Trần Quốc Toản là cảm hứng cho nhà văn Nguyễn Huy Tưởng sáng tác tiểu thuyết lịch sử “Lá cờ thêu sáu chữ vàng“, trong đó ông là nhân vật chính của tác phẩm.
  • Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Lịch sử nước ta” có ca ngợi về Trần Quốc Toản như sau:[5]
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.

Trần Hưng Đạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Hưng Đạo
Hưng Đạo Vương (chi tiết…)
Tượng Trần Hưng Đạo của điêu khắc gia Phạm Thông dựng vào giữa thập niên 1960 tại bến Bạch Đằng, Thành phố Hồ Chí Minh
Tượng Trần Hưng Đạo của điêu khắc gia Phạm Thông dựng vào giữa thập niên 1960 tại bến Bạch Đằng, Thành phố Hồ Chí Minh
Quốc công Tiết chế
Vợ Nguyên Từ quốc mẫu
Tên húy
Trần Quốc Tuấn
Thụy hiệu Thái sư Thượng Phụ Quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ An Sinh vương Trần Liễu
Thân mẫu Thiện Đạo quốc mẫu
Sinh 1232?
Huyện Hưng Hà, Thái Bình.
Mất 1300
Vạn Kiếp, Đại Việt (Chí Linh, Việt Nam)
An táng Vườn An Lạc

Trần Hưng Đạo (chữ Hán: 陳興道) (1232?[1]1300), còn được gọi là Hưng Đạo Vương, tên thật là Trần Quốc Tuấn (陳國峻); là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất, và là nhà văn Việt Nam thời Trần.

Thân thế và sự nghiệp

Thân thế

Trần Hưng Đạo’ là con trai An Sinh Vương Trần Liễu, gọi vua Trần Thái Tông bằng chú ruột [2], và Công chúa Thụy Bà (chị ruột của vua Trần Thái Tông, và là cô ruột Trần Quốc Tuấn) là mẹ nuôi của ông [3]. Nguyên quán ông huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Ông là người có “dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người”, và nhờ “được những người tài giỏi đến giảng dạy” mà ông sớm trở thành người “đọc thông hiểu rộng, có tài văn võ” [4].

Ba lần chống quân Nguyên Mông

 

Trần Hưng Đạo trở thành võ quan nhà Trần lúc nào không rõ, chỉ biết vào tháng Chín (âm lịch) năm Đinh Tỵ (1257), ông giữ quyền “tiết chế” để chuẩn bị chống lại cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 9 (1257), (Trần Thái Tông) xuống chiếu, lệnh (cho) tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới (phía Bắc) theo sự tiết chế của (Trần) Quốc Tuấn” [5].

 

Sau khi đánh lui được quân Nguyên Mông lần đầu (1258), tháng Mười (âm lịch) năm 1283, để chuẩn bị kháng chiến lần hai (1285), Trần Hưng Đạo được vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh các lực lượng quân sự. Tháng Tám (âm lịch) năm sau (1284), ông cho duyệt quân ở bến Đông Bộ Đầu (gần dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay), đọc bài “Hịch tướng sĩ” nổi tiếng, rồi chia quân đóng giữ nơi hiểm yếu.

 

Đầu năm 1285, tức 27 năm sau, quân Nguyên Mông lại ào ạt tiến công vào phía bắc và vùng Thanh HóaNghệ An. Để bảo toàn lực lượng và thực hiện kế “thanh dã” (vườn không nhà trống), Trần Hưng Đạo ra lệnh rút quân. Quân xâm lược vào Thăng Long rồi tiến xuống Thiên Trường (vùng Nam Định) đuổi theo vua Trần. Vua Trần Thánh Tông lo ngại, vờ hỏi ông xem có nên hàng không. Ông khảng khái trả lời “Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng” [6]. Tháng 5 (dương lịch) năm ấy (1285), ông vạch kế hoạch tổng phản công. Chỉ sau một tháng chiến đấu quyết liệt với các trận Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp,…quân dân nhà Trần đã đánh tan đội quân Nguyên Mông, giải phóng đất nước.

 

Cuối năm 1287, nhà Nguyên xâm lược lần thứ ba. Trần Nhân Tông hỏi: “Năm nay đánh giặc thế nào?”. Trần Hưng Đạo đáp: “Năm nay thế giặc nhàn”. Khi đoàn thuyền lương đối phương bị tiêu diệt ở Vân Đồn, chủ tướng là Hoàng tử Thoát Hoan phải rút lui, ông bố trí lực lượng mai phục ở cửa sông Bạch Đằng trực tiếp tổ chức chiến trường tiêu diệt toàn bộ binh thuyền của Ô Mã Nhi vào tháng Tư (âm lịch) năm Mậu Tý (1288). Thoát Hoan nghe tin đội quân thủy đã vỡ tan rồi, liền dẫn tàn quân tháo chạy về nước, dọc đường bị quân Việt đón đánh khiến “quân sĩ mười phần, tổn hại mất 5, 8 phần”. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để trốn chạy về nước.[7].

 

Lui về Vạn Kiếp rồi qua đời

 

Tháng Tư (âm lịch) năm Kỷ Sửu (1289), luận công ba lần đánh đuổi quân Nguyên Mông, Trần Hưng Đạo được phong tước Hưng Đạo đại vương. Sau đó, ông lui về ở Vạn Kiếp, là nơi ông được phong ấp (nay thuộc xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Nhân dân lúc bấy giờ kính trọng ông, lập đền thờ sống (sinh từ) ông ở Vạn Kiếp. Tại đền có bài văn bia của vua Trần Thánh Tông, ví ông với Thượng phụ (tức Khương Tử Nha)[8]

 

Tháng Sáu (âm lịch) năm Canh Tý (1300), ông lâm bệnh, được vua Trần Anh Tông tới thăm và hỏi về kế sách chống ngăn “giặc phương Bắc”. Chữa mãi không khỏi bệnh, ông mất ngày 20 tháng Tám (âm lịch) năm ấy, thọ khoảng 70 tuổi.

 

Khi sắp mất, Trần Hưng Đạo dặn các con rằng: “Ta chết thì phải hỏa táng, lấy vật tròn đựng xương, bí mật chôn trong vườn An Lạc, rồi san đất và trồng cây như cũ, để người đời không biết chỗ nào, lại phải làm sao cho mau mục”[9]

 

Nghe tin Trần Hưng Đạo mất, triều đình nhà Trần phong tặng ông là “Thái sư Thượng Phụ Thựơng Quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương”. Ông được nhân dân cả nước tôn vinh là “Đức Thánh Trần” và lập đền thờ ở nhiều nơi, song nổi tiếng hơn cả là Đền Kiếp Bạc ở xã Hưng Đạo (Chí Linh, Hải Dương). Đây là nơi ông lập căn cứ, tích trữ lương thực, huấn luyện quân sĩ trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông.

 

Tác phẩm

 

Tác phẩm của Trần Hưng Đạo hiện còn:

 

  • Dụ chư tỳ tướng hịch văn (Bài văn hịch hiểu dụ các tỳ tướng, quen gọi là Hịch tướng sĩ).
  • Binh gia diệu lý yếu lược (Tóm lược chỗ cốt yếu trong nguyên lý kỳ diệu của nhà binh, còn gọi là Binh thư yếu lược)
  • Vạn Kiếp tông bí truyền thư (Sách bí truyền của tông phái Vạn Kiếp) nhưng văn bản đã thất lạc, chỉ còn lại bài Tựa của tướng Trần Khánh Dư đề ở đầu sách, được Đại Việt sử ký toàn thư (quyển VI) ghi lại.

 

Ghi nhận công lao

 

Tượng đài Trần Hưng Đạo tại bến Bạch Đằng (TP. Hồ Chí Minh)

 

Dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo, quân đội nhà Trần đã vượt qua vô vàn khó khăn và hiểm nguy, ba lần đánh tan hàng vạn quân Nguyên Mông xâm lược, giành thắng lợi lẫy lừng, “tiếng vang đến phương Bắc, khiến chúng thường gọi ông là An Nam Hưng Đạo Vương mà không dám gọi thẳng tên”[10]. Công lao to lớn này đã đưa ông lên hàng “thiên tài quân sự có tầm chiến lược, và là một anh hùng dân tộc bậc nhất của nhà Trần” [11].

 

Là một Tiết chế đầy tài năng, khi “dụng binh biết đợi thời, biết thừa thế tiến thoái”[12], đặc biệt là có một có một lòng tin sắt đá vào sức mạnh và ý chí của nhân dân, của tướng sĩ, nên Trần Hưng Đạo đã đề ra một đường lối kháng chiến ưu việt, tiêu biểu là các cuộc rút lui chiến lược khỏi kinh thành Thăng Long, để bảo toàn lực lượng. Kế hoạch “thanh dã” (vườn không nhà trống) và những hoạt động phối hợp nhịp nhàng giữa “hương binh” và quân triều đình, những trận tập kích và phục kích có ý nghĩa quyết định đối với cả chiến dịch như ở Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vân Đồn, và nhất là ở Bạch Đằng…đã làm cho tên tuổi ông bất tử [11].

 

Có thể nói tư tưởng quán xuyến suốt đời của Trần Hưng Đạo, là một tấm lòng tận tụy đối với đất nước, là ý muốn đoàn kết mọi tầng lớp trong dân tộc thành một lực lượng thống nhất, là tinh thần yêu thương dân. Cho nên trước khi mất, ông vẫn còn dặn vua Trần Anh Tông rằng: “Phải nới sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” cho sự nghiệp lâu dài của nước nhà[11].

 

Sử liệu liên quan

 

Vì nước, quên thù nhà

 

Năm Đinh Dậu (1237), Thái sư Trần Thủ Độ ép Trần Liễu (cha Trần Hưng Đạo) phải nhường vợ là Thuận Thiên Công chúa (chị của Lý Chiêu Hoàng) cho em ruột là vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) dù bà này đã có thai với Trần Liễu được ba tháng, đồng giáng Lý Chiêu Hoàng (đang là Hoàng hậu) xuống làm Công chúa. Phẫn uất, Trẫn Liễu họp quân làm loạn. Trần Thái Tông chán nản bỏ đi lên Yên Tử. Sau Trần Liễu biết không làm gì được phải đóng giả làm người đánh cá trốn lên thuyền vua Trần Thái Tông xin tha tội. Trần Thủ Độ biết được, cầm gươm đến định giết Trần Liễu nhưng Thái Tông lấy thân mình che cho Trần Liễu. Trần Liễu được tha tội nhưng quân lính theo ông đều bị giết [13]. Mang lòng hậm hực, Trần Liễu tìm khắp những người tài nghệ để dạy Trần Quốc Tuấn (tức Trần Hưng Đạo). Lúc sắp mất, ông cầm tay Quốc Tuấn, trăng trối rằng: “Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Quốc Tuấn ghi để trong lòng, nhưng không cho là phải. Đến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, Trần Quốc Tuấn đem lời cha trăng trối để dò ý hai thuộc tướng thân tín là Dã TượngYết Kiêu. Hai người thuộc hạ ấy can rằng: “Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu”…Trần Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người.

 

Một hôm Trần Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ vương: “Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào? Hưng Vũ vương thưa: “Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!”. Trần Quốc Tuấn ngẫm cho là phải. Lại một hôm ông đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Quốc Tảng tiến lên thưa: Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ”. Trần Quốc Tuấn rút gươm kể tội: “Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra” và định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Trần Quốc Tuấn mới tha. Sau đó, ông dặn Hưng Vũ vương: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng” [14].

 

Năm Ất Dậu (1285), thế quân Nguyên Mông bức bách, hai vua Trần ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ nguyên (sông Ba Chẽ, thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay), sai người đưa thuyền ngự ra Ngọc Sơn (mũi biển thuộc châu Vạn Ninh, gần Móng Cái, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) để đánh lừa quân xâm lược. Sách Đại Việt sử ký toàn thư kể: “Lúc ấy, xa giá nhà vua đang phiêu giạt, mà Trần Quốc Tuấn vốn có kỳ tài, lại còn mối hiềm cũ của An Sinh vương, nên có nhiều người nghi ngại. Trần Quốc Tuấn theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Trần Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi chỉ chống gậy không mà đi. Còn nhiều việc nữa, đại loại như thế”[15].

 

Không tham chức, biết gạt bỏ hiềm khích riêng

 

Trước kia, Trần Thánh Tông thân đi đánh giặc, Trần Quang Khải theo hầu, ghế tể tướng bỏ không, vừa lúc có sứ phương bắc đến. Trần Thái Tông gọi Trần Hưng Đạo tới bảo: “Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm định lấy khanh làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc”.Trần Hưng Đạo thưa: “Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần không dám vâng chiếu. Huống chi Quan gia đi đánh giặc xa, Thái sư theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Thượng tướng. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn.”

 

Một hôm, Trần Hưng Đạo từ Vạn Kiếp tới, Trần Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Trần Quang Khải vốn sợ tắm gội, Trần Hưng Đạo thì thích tắm thơm, từng đùa bảo Trần Quang Khải: “Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm giùm”, rồi cởi áo Trần Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông và nói: “Hôm nay được tắm cho Thượng tướng”. Trần Quang Khải cũng nói: “Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho”. Từ đó, tình nghĩa qua lại giữa hai ông ngày càng thêm mặn. Bản thân làm tướng văn, tướng võ, giúp rập nhà vua, hai ông đứng hàng đầu [16]

 

Sử cũ cũng kể rằng bấy giờ Hưng Vũ vương Nghiễn (là con trai của Trần Quốc Tuấn, lại có công đánh giặc) được lấy Công chúa Thiên Thụy, thế nhưng tướng Trần Khánh Dư lại thông dâm với Thiên Thụy, khiến nhà vua phải xuống chiếu trách phạt và đuổi Khánh Dư về Chí Linh vì “sợ phật ý Quốc Tuấn”. Vậy mà khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Đại Việt lần thứ 3, Trần Hưng Đạo đã gạt bỏ hiềm riêng, tin cậy “giao hết công việc biên thùy cho phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư” khi ông này được phục chức. Ngoài ra, khi soạn xong Vạn Kiếp tông bí truyền thư, thì Trần Khánh Dư cũng là người được ông chọn để viết bài Tựa cho sách[17].

 

Khéo tiến cử người tài giỏi, kính cẩn giữ tiết làm tôi

 

Cổng vào đền thờ Trần Hưng Đạo ở quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

 

Đền thờ Trần Hưng Đạo ở địa chỉ trên

 

Trần Hưng Đạo khéo tiến cử người tài giỏi cho đất nước, như Dã Tượng, Yết Kiêu là gia thần của ông, có dự công dẹp Ô Mã Nhi, Toa Đô. Các người nổi tiếng khác như Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông, đều nổi tiếng thời đó về văn chương và chính sự [18]

 

Vì có công lao lớn nên nhà vua gia phong ông là Thượng quốc công, cho phép ông được quyền phong tước cho người khác, từ minh tự trở xuống, chỉ có tước hầu thì phong trước rồi tâu sau. Nhưng Trần Hưng Đạo chưa bao giờ phong tước cho một người nào. Khi quân Nguyên vào xâm chiếm nước Việt, ông lệnh cho nhà giàu bỏ thóc ra cấp lương quân, mà cũng chỉ cho họ làm lang tướng giả chứ không cho họ tước lang thực, ông rất kính cẩn giữ tiết làm tôi…[19]

 

Bị chọc vào đầu đến chảy máu, sắc mặt vẫn không thay đổi

 

Đầu năm Tân Tỵ (1281), vua Nguyên Mông là Hốt Tất Liệt lại sai Sài Xuân đem ngàn quân hộ tống nhóm Trần Di Ái về nước. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Sài Xuân ngạo mạn vô lễ, cưỡi ngựa đi thẳng vào cửa Dương Minh. Quân sĩ Thiên Trường ngăn lại, Xuân dùng roi ngựa quất họ bị thương ở đầu… Vua (Trần Nhân Tông) sai Trần Quang Khải đến sứ quán khoản tiếp. Xuân nằm khểnh không ra, Quang Khải vào hẳn trong phòng, hắn cũng không dậy tiếp. Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn nghe thấy thế, tâu xin đến sứ quán xem Xuân làm gì. Lúc ấy Quốc Tuấn đã gọt tóc, mặc áo vải. Đến sứ quán, ông đi thẳng vào trong phòng. Xuân đứng dậy vái chào mời ngồi. Mọi người đều kinh ngạc, có biết đâu gọt tóc, mặc áo vải là hình dạng nhà sư phương Bắc. Ông ngồi xuống pha trà, cùng uống với hắn. Người hầu của Xuân cầm cái tên đứng sau Quốc Tuấn, chọc vào đầu đến chảy máu, nhưng sắc mặt Quốc Tuấn vẫn không hề thay đổi. Khi trở về, Xuân ra cửa tiễn ông…”[20]

 

Lời tâm huyết trước khi mất

 

Cọc gỗ Bạch Đằng thời nhà Trần

 

Tháng Sáu (âm lịch) năm Canh Tý (1300), Trần Hưng Đạo ốm. Vua Trần Anh Tông ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?”. Ông trả lời: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã (vườn không nhà trống), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời nhà Đinh, nhà Tiền Lê dùng người tài giỏi, đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”[21].

 

Vợ, con

 

Trần Hưng Đạo cưới Công chúa Thiên Thành làm vợ. Bà là Trưởng công chúa của vua Trần Thái Tông. Sau, bà được phong tước là Nguyên Từ quốc mẫu, và mất vào tháng 9 (âm lịch) năm Mậu Tý (1288). Bà sinh hạ cả tất cả 5 người con, gồm 1 gái và 4 trai:

 

  • Một gái đầu lòng tên là Trinh, thường gọi là Trinh Công chúa, sau trở thành vợ của vua Trần Nhân Tông, tức Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu, rồi sinh ra con là vua Trần Anh Tông sau này.

 

Bốn trai (không rõ thứ bậc), đều là võ tướng có tài, từng theo cha đánh đuổi quân Nguyên Mông, đó là:

 

  • Trần Quốc Nghiễn, tước Hưng Vũ vương: Ông cưới Công chúa Thiên Thụy, trở thành Phò mã của vua Trần Thánh Tông. Sau khi đánh đuổi quân Nguyên Mông, tháng Tư (âm lịch) năm 1289, ông được phong làm Khai Quốc công.
  • Trần Quốc Hiện, tước Hưng Trí vương: Khi xét công đánh đuổi, ông không được thăng trật, vì “đã có chiếu cho người Nguyên về nước, các tướng không được cản trở, mà lại còn đón đánh chúng” [22]. Ông cũng là người có công tổ chức khẩn hoang nhiều vùng đất hoang vu của khu vực tỉnh Hải Dương ngày nay[23].
  • Trần Quốc Tảng, tước Hưng Nhượng vương: Khi xét công, ông được phong làm Tiết độ sứ. Ông có con gái gả cho vua Trần Anh Tông, tức Thuận Thánh Hoàng hậu..

 

[22].

 

Ngoài ra, Trần Hưng Đạo còn có một người con gái nuôi, đó là Anh Nguyên Quận chúa, sau là vợ của danh tướng Phạm Ngũ Lão[24].

 

Vinh danh

 

Giúp nên cơ nghiệp Trùng Hưng công lao hàng bậc nhất.
Dẫu đã mất mà uy phong còn bẻ gãy giặc Bắc.
Thanh kiếm dài tựa ngoài trời thuở xưa, đêm đêm thường rít lên như gió.

 

Uy linh khắp biển Đông, sóng cả yên lặng.
Ân trạch ở Phần Dương có sánh cũng bằng thừa.
Mãi khiến giặc Hồ phải biết tay tài giỏi .

 

Đền thờ

 

  • Đền Bảo Lộc, tỉnh Nam Định
  • Đền Tân Phẩm, tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Đền Trần Thương, tỉnh Hà Nam
  • Đền Đức Thánh Trần, 36 Võ Thị Sáu, phường Tân Định, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Đền A Sào, xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
  • Điện Thờ Đức Thánh TRần, thôn Quang Trung , xã Diên Hông, huyện Thanh Miện,tỉnh Hải Dương.
  • Đền thờ Đức Thánh Trần, ấp Lai Khê, xã Lai Hưng, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

 

Câu nói nổi tiếng

 

Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng

—Trả lời Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông trong cuộc kháng chiến lần 2

 

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xẻ thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng.

—Hịch tướng sĩ

 

Vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. (Nên) khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy.

—Trả lời Trần Anh Tông về quốc sách giữ nước trước khi mất

 

Thánh Mẫu Cao Tổ Vũ Thị Thục Nương

       Vũ ngọc Phương 

Trung ương Hội Khoa học phát triển
nguồn Nhân Lực – Nhân Tài Việt Nam.

Bà Cao Tổ Vũ thị Thục Nương sinh vào giờ Dần ngày Rằm tháng Tám năm Đinh Sửu ( Năm 17 sau Công nguyên) tại xã Phượng Lâu – Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, đầu Công Nguyên nơi đây là cố đô nước Văn Lang độc lập. Bà là Nữ Tướng xuất chúng, văn võ song toàn đứng đầu các Vị Nữ Tướng của Hai Bà Trưng, ngày 17/3 Âm lịch năm Quý Mão (43 sau Công Nguyên) trong trận chiến cuối cùng chống với hàng vạn quân Đông Hán do Mã Viện cầm quân, Bà đã quyết chiến đến cùng và tử tiết khi mới 26 tuổi, đến nay đã là 1969 năm.

Lịch sử và Thần phả còn ghi lại Bà là con gái của Cụ Cao Cao Tổ Vũ Công Chất, Mẹ là Bà Hoàng thị Mầu, cả hai vợ chồng Cụ đều là người gốc Việt Thường. Sinh thời Bà là một người phụ nữ có nhan sắc tuyệt vời, đoan trang, trung hậu và đảm đang, văn hay võ giỏi nên hiệu là Ngọc Hoa Công chúa. Bà đã dậy dân phát triển nghề Nông, dậy hát đối, hát xoan, hát đúm nay vẫn còn truyền lại. Bà còn chỉ bảo dân thời ấy quần tụ lại để xây dựng, phát triển Xã – Thôn Việt từ những năm đầu Công nguyên.

Thời ấy, bên kia sông Bạch Hạc ở xã Nam Chân có chàng trai rất có tài đức là Phạm Danh Hương đã đặt lễ đính hôn Bà, chờ đến mùa Thu thì làm lễ rước dâu. Bên Châu Bạch Hạc có một Tù trưởng họ Trần giầu sang quyền thế nhất vùng đã nhiều lần mang lễ vật lớn xin cưới Bà không được, khi biết Bà đã hứa hôn với Phạm Danh Hương, họ Trần liền xui giục Tô Định chiếm đoạt Bà. Tô Định được vua Quang Vũ Nhà Đông Hán sai làm Thái thú Quận Giao chỉ từ năm Giáp Ngọ (Năm 34 sau Công nguyên).Được mưu, Tô Định bèn giả làm khách buôn đến tận nơi chiêm ngưỡng dung nhan Bà thấy như Tiên Nữ giáng trần liền sai quân lính bắt Cha Bà – Cụ Cao Tổ Vũ Công Chất và Phạm Danh Hương tới phủ đường bắt dâng Bà và từ hôn, dụ dỗ không được, Tô Định đã dùng cực hình giết cả hai người rồi kéo quân tới bắt Bà. Được tai mắt dân cả Châu báo, đang đêm Bà vượt sông về đến Tiên La là vùng đất chưa bị quân Đông Hán chiếm đóng, thì dừng lại. Dân thấy Bà hiệu triệu nô nức kéo về kể có hàng vạn, Bà chỉ kén phụ nữ làm binh sỹ, luyện tập ngày đêm thành một đội quân tinh nhuệ. Vừa chiêu binh mãi mã, vừa dậy dân khai khẩn đất hoang,…. chỉ mấy năm Tiên La trở thành một vùng trù phú, binh lực ngày một mạnh.

Tô Định càng bạo ngược, chính trị tàn ác, dân Việt đã oán giận chồng chất. Năm Canh Tý
( 40 sau Công nguyên) Tô Định lại giết Thi Sách Quận Châu Diên Phủ Vĩnh Tường (Nay thuộc Vĩnh Yên) . Vợ Thi Sách là Trưng Trắc ở làng Hạ Lôi,huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc yên) là con gái lạc Tướng Mê Linh cùng với em là Trưng Nhị cất quân khởi nghĩa.

Bà Cao Tổ Vũ thị Thục Nương cùng dấy binh hưởng ứng đánh Tô Định bại trận phải chạy về quận Nam Hải. Là Nữ Tướng xuất sắc nhất, lại là Người dấy tinh binh khởi nghĩa đầu tiên của Hai Bà Trưng, Bà Cao Tổ Vũ thị Thục Nương cùng với Nữ Tướng Lê Chân giải phóng cả một vùng duyên hải từ Thái Bình lên đến Hải Phòng, Quảng Ninh đã cùng với quân của Hai Bà Trưng hạ được 65 thành trì, sau khi Hai Bà Trưng lên ngôi Vua có phong cho Bà Cao Tổ Vũ thị Thục Nương làm Đông Nhung Đại Tướng quân – xếp hạng công đầu. Nhưng Bà xin từ quan về Tiên La.

Năm Tân Sửu ( Năm 41 sau Công Nguyên) vua Quang Vũ nhà Đông Hán lại sai Mã Viện làm Phục Ba Tướng quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với Lâu thuyền Tướng quân là Đoàn Chí kéo mấy mươi vạn quân sang đánh Hai Bà Trưng. Bà Cao Tổ Vũ Thị Thục Nương cùng quân Hai Bà Trưng đón đánh quân Đông Hán.Nhưng thế quân Đông Hán quá lớn, quân Hai Bà Trưng đánh mấy trận không đương nổi phải tan vỡ. Hai Bà Trưng chạy về đến xã Hát Môn thuộc huyện Phúc Lộc tỉnh Sơn Tây thì thế phải bức quá, Hai Bà gieo mình xuống sông tự tận, bấy giờ nhằm ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão ( Năm 43 sau Công nguyên). Bà Cao Tổ Vũ thị Thục Nương tiếp tục cầm cự. Quân Đông Hán kéo tất cả đến vây kín mấy vòng, quân của Bà Cao Tổ hết lương, cầm binh khí ngắn quyết tử không còn một người nào. Ngày 17 tháng 3 năm Quý Mão ( Năm 43 sau Công nguyên), Bà Cao Tổ tay cầm song kiếm, một mình một ngựa xông vào tả xung hữu đột chém giết quân Đông Hán như vào chỗ không người, khi sức đã kiệt Bà tự vẫn không để giặc bắt.

Thần phả và truyền thuyết kể rằng Bà vốn là Thượng Đẳng Thần Ngọc Hoa Công chúa nhiều lần giáng trần cứu Nước, yên Dân, diệt ác, trừ tà bảo vệ sinh linh khỏi nhiều tai họa. Sau khi Bà Cao Tổ tự vẫn, tương truyền thân Bà tan thành tám mảnh về tám phương, một là ở ngay mộ phần của Bà trong hậu cung Đền Tiên La, còn hóa thân là các bậc Thánh khác trong Đạo Thánh Mẫu Việt Nam. Phong tục cổ Việt cho rằng khi người con gái lấy chồng thì theo phúc lộc nhà chồng, vì Bà chỉ mới hứa hôn chưa xuất giá, tử tiết khi còn là con gái nên được tôn là Bà Cao Cô Tổ hiệu Ngọc Hoa Công chúa – Vũ thị Thục Nương làm Tổ Mẫu họ Vũ gốc Việt.

Dân gian truyền tụng hậu thân Bà Cao Tổ là Bà Chúa Đồng Mỏ đã dấy binh cùng với các tướng của Lê Lợi là Lê Sát, Trần Lựu, Lê Lý, Trần Nguyên Hãn, Phạm Vấn, Lê Khôi, Nguyễn Xí …. vây đánh viện quân nhà Minh, chém Chinh Lỗ Phó Tướng quân An Viễn Hầu Liễu Thăng tại núi Đảo Mã Pha ( Giờ là núi Mã Yên làng Mai sao – Ải Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn) ngày 20 tháng 9 năm Đinh Vị 1428. Ghi nhớ công lao, ơn đức của Bà Cao Tổ Vũ thị Thục Nương là Người đã cùng Hai Bà Trưng giành độc lập đầu tiên cho Nước Nhà chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất ( Năm 111 đến 39 sau Công nguyên) nhân dân Thái Bình đã lập đền thờ ngay trên mộ Bà Cao Tổ hương khói không dứt trải suốt 1969 năm qua. Đến nay Lễ Hội Bà Cao Tổ Vũ thị Thục Nương tháng 3 Âm lịch hàng năm đã trở thành Lễ Hội Quốc gia được đồng bào cả Nước về dự.

Xét trong sử sách từ trước Công nguyên đến nay, họ Vũ – Võ Việt Nam đời nào cũng có người có người ra giúp Dân, giúp Nước. Chi họ Vũ gốc Việt Thường tính từ đời Cụ Cao Cao Tổ Vũ Công Chất đến Bà cao Tổ hiệu Ngọc Hoa Công chúa Vũ Thị Thục Nương là hơn 2000 năm. Sau hơn một nghìn năm, có chi họ Vũ Mân Việt lập nghiệp tại Giao chỉ – Âu Lạc mở đầu là Cụ Vũ Hồn được Đường Vũ tôn Viêm – Hội Xương năm thứ 1 bổ làm Kinh lược sứ thay Hàn Ước vào năm Tân Dậu ( Năm 841 sau Công nguyên – Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ – quyển V trang 134 sách đã dẫn ), con cháu Cụ Vũ Hồn khẩn hoang mở ấp tại làng Mộ Trạch, huyện Bình Gia, tỉnh Hải Dương. Các bậc Danh Nho người Mộ trạch mà sử sách,bia ký lưu danh tại Văn Miếu Quốc tử giám, Hà nội có 82 bia độc lập thì làng Mộ Trạch có tới 18 bia ghi danh 25 vị Tiến sỹ.
Nước Nam Việt xưa bị vua Vũ Đế nhà Tây Hán sai Lộ Bác Đức và Dương Mộc sang đánh chiếm năm Canh Ngọ ( Năm 111 trước Công Nguyên) cải làm Giao Chỉ Bộ gồm chín Quận bao gồm từ Quảng Đông, Quảng Tây đến miền Bắc và mấy tỉnh ở bắc miền Trung Việt Nam. Các Chi họ Vũ nước Nam Việt đã về quần tụ, định cư trên cả giải đất Việt Nam ngày nay cùng các dòng họ khác chung sức xây dựng bảo vệ phát triển Nước nhà.

Đến đời Nhà Trần, chi họ Bà Cao Tổ Vũ thị Thục Nương có Cụ Cao Tổ Vũ Hải sinh năm 1257 cùng năm với Vua Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo, Cụ là người mưu lược, tài trí hơn người được phong là Phó Đô Ngự sử Bát Hải Hữu tướng quân. Ngày 10 tháng 3 năm Mậu tý (1288) trong trận Bạch Đằng giang đánh Ô Mã Nhi trong kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba, Cụ đã anh dũng hy sinh khi mới 31 tuổi. Ghi nhớ công đức Cụ, Vua Trần Thánh Tông cho lập đền thờ Bát Hải Đại Vương Vũ Hải nay còn ở Du Lễ, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Tương truyền đến thời Nhà Minh xâm lược nước ta, có Cụ Cao Tổ làm Đại Tướng giúp Lê Lợi đánh quân Minh, khi chiến thắng quân Minh đã làm quan Đại thần trải mấy triều Lê. Sau khi từ trần ngày 10 tháng 10 năm 1465 được vua Lê Thánh Tông lập Đền Thánh Đức Tự thờ Cụ. Đền này, sau nhiều biến động lịch sử đến nay Đền thành chùa Hà hiện ở Hà Nội.
Đến biến động thời Nhà Mạc nổi lên năm Đinh Hợi (1527), có Cụ Vũ Hộ ra giúp Nhà Mạc bớt điều bạo nghịch, khuyên Nhà Mạc giữ nguyên phép cũ Nhà Lê, trọng dụng nhân tài,…..vì thế Nhà Mạc sau còn về giữ được đất Cao Bằng đến năm Đinh Tỵ ( 1667) mới mất hẳn, tất cả 140 năm.

Chi họ Vũ Bà Cao Tổ Vũ thị Thục Nương sau về lập nghiệp ở Đông Cao, Thiên thai, Bắc Ninh được Triều Lê Trung Hưng ban cho giấy Sắc Phong Thần để viết Gia phả, bản gốc hiện còn lưu giữ được bằng chữ Hán ghi rõ như sau:
” Cụ Tổ 7 đời ( tính đến Danh Nhân Văn hóa – Nhà văn Vũ ngọc Phan ) là Cụ Vũ Bân làm quan đến Quản trấn hậu cơ Tứ thành Mật sát – Thai Lĩnh Hầu đời Lê Trung Hưng. Cụ (Vũ Bân) nạp một người thiếp sinh được một con gái tên là Nguyên,về sau cùng chồng tuẫn nạn. Nguyên chồng Thị Nguyên làm quan Tư đồ Thiếu phó,Đại tướng Tây Sơn,không rõ họ tên,lúc đó giữ thành Bình Định. Đại tướng triều Nguyễn là quan Phò mã Võ Tánh vây đánh rất gấp, Thị Nguyên đích thân thống xuất đạo quân tinh nhuệ giải vây cho chồng rồi vây lại Võ Tánh. Võ Tánh dùng thuốc súng tự vẫn.Vua Gia Long đi xuyên sơn ra lấy Bắc Thành. Nhà Tây Sơn bị diệt. Quân ở Bình Định bị vỡ. Vợ chồng quan Thiếu phó mưu việc đi Ai Lao, tính việc khôi phục. Quân nhà Nguyễn (Gia Long) dò biết được, đón đường bắt được, quấn nến vào người ( Vũ Thị Nguyên) đốt, tế Võ Tánh để báo thù. Cụ Thai Lĩnh Hầu ăn mặc giả thường dân tới tận nơi,mục kích việc xẩy ra về thuật lại. Việc này có chép trong chuyện Võ Tánh – Quyển Hoàng Nguyễn Thực lục.” (Sách đã dẫn).
Có nhiều cứ liệu Lịch sử cho biết, Thái sư Bùi Đắc Tuyên Nhà Tây Sơn có nhận Bà Vũ Thị Nguyên làm con nuôi rồi đổi tên, sau này Bà là Nữ Tướng xuất chúng của Nhà Tây Sơn chính là Đô đốc Bùi Thị Xuân.

Con là Cụ Thông Mẫn Công Vũ Diệm về lập Phường Đồng Lạc góp phần xây dựng Đông Đô – Hà nội nay ở 90 phố Hàng Đào có Đình thờ Cụ làm Thành Hoàng.
Cuối đời Lê đầu Nguyễn, cháu đích tôn là Đoan Hậu Công Vũ Đức Quang nổi tiếng là Danh sỹ Bắc Hà đi khắp nơi cứu độ dân nghèo được đương thời tôn là Phật sống. Cụ còn để lại đôi câu đối nổi tiếng nay vẫn còn ghi trên cổng đền Trung Liệt Gò Đống đa, Hà Nội:
Thử thành quách, thử giang san.
Bách chiến phong trần dư xích địa.
Vi nhật tinh vi hà nhạc
Thập niên tâm sự cộng thiên thanh.
Tạm dịch:
Thành quách này giang sơn này
Trăm trận phong trần còn
Vì trời sao vì sông núi
Mười năm tâm sự cùng trời xanh.

Đến thời Nguyễn, có Cụ Văn Khiêm Tướng Công Vũ Cẩn đã cùng với Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thuyết giữ thành Hà nội năm Quý Dậu (1873) chống quân Pháp, Hà nội thất thủ, Cụ xin cáo quan về dậy học ở Bắc Ninh. Sau khi chết, mộ Cụ được học trò chôn cất trên núi Phúc Đức tục gọi là núi Nác hiện phần mộ trên sân trường Cao đẳng kỹ thuật Bắc Ninh hàng năm vẫn được tế lễ.

Sang những năm đầu thế kỷ XX, Chi họ Vũ Đồng Kỵ , Gia Lâm, Hà Nội có Vũ Nguyên Bác được Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh (lúc đó bí danh là Lý Thụy) đặt bí danh là Lý Anh Tự, đưa sang tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1923, học trường quân sự Hoàng phố cùng với các Nhà tiền bối cách mạng Trung Quốc như Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức,… Sau Vũ Nguyên Bác còn có tên là Hồng Thủy, Nguyễn Sơn – Lưỡng Quốc Tướng quân hai nước Việt – Trung, tham gia Vạn lý trường chinh do Mao Trạch Đông lãnh đạo, công rất to lớn. Ngày nay tại Bát Bảo sơn, Bắc Kinh, Trung Quốc có bài vị thờ ông là một trong tám khai quốc công thần thành lập nước Trung Hoa mới.
Lãnh đạo quân sự trong nước ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ còn có Đại Tướng Võ (Vũ) Nguyên Giáp mà công trạng hiển hách không ai không biết.

Về văn hóa, có Danh nhân Văn hóa – Nhà văn Vũ Ngọc Phan đã có công mở đầu cho phê bình văn học hiện đại nước nhà và là người đầu tiên nghiên cứu phân loại Văn học Dân gian Việt Nam một cách hệ thống, khoa học. Đóng góp cho khoa học quân sự hóa học, vũ khí nguyên tử đầu tiên của quân đội Nhân dân Việt Nam có Liệt sỹ Vũ Hoài Tuân, đóng góp cho khoa học Nông nghiệp, sinh học có Giáo sư Viện sỹ Vũ Tuyên Hoàng,….Sau Công cuộc Đổi Mới do Đảng ta lãnh đạo mở ra thời đại chấn hưng phát triển kinh tế – xã hội đất nước đã làm xuất hiện nhiều Nhân tài trong tất cả các lĩnh vực văn hóa, khoa học kỹ thuật, kinh tế, xã hội.Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, các Doanh nhân kinh tế được vinh danh trong đó phải kể đến Doanh nhân Vũ Quang Hội đã từ tài năng, ý chí và nghị lực tham gia xây dựng kinh tế tỉnh Thái Bình, đồng thời đóng góp Tâm Đức cho công cuộc bảo tồn, phát huy Văn hóa Tâm linh Dân tộc.

Tại Lễ tưởng niệm về Bát Nạn Đại Tướng quân Đông Nhung hôm nay, chúng ta giới thiệu sơ lược về sự đóng góp của Chi họ Vũ – có Tổ Mẫu là Bà Cao cô Tổ Vũ thị Thục Nương trải gần hai nghìn năm, đời nào cũng có người họ Vũ ” Vì Nước quên thân, Vì Dân phục vụ”. Càng vinh dự bao nhiêu, chúng ta càng tâm niệm cố gắng bấy nhiêu noi gương các bậc tiền bối Chi họ Vũ phát tích từ Phượng Lâu – Vĩnh Phú trong Gia tộc Vũ – Võ Bách Việt đã cứ trú nghìn đời trên dải đất Việt Nam cùng với các dòng họ khác trong Đại gia đình Dân tộc Việt Nam để chung sức xây dựng nước ta mãi mãi vững bền.

Tiên La, Thái Bình ngày 13 tháng Giêng năm Nhâm Thìn (04/02/2012)